Ngăn chặn tai nạn lao động từ gốc

Từ những sự cố may mắn thoát nạn đến hàng ngàn vụ tai nạn lao động mỗi năm, thực tế cho thấy yêu cầu cấp thiết phải nhận diện, kiểm soát rủi ro ngay tại nơi làm việc. Sửa Luật An toàn, vệ sinh lao động cần hướng đến phòng ngừa từ gốc, thay vì chỉ tập trung xử lý hậu quả.

Thoát nạn không có nghĩa là đã an toàn

Ngày 2-11-2025, một thợ sơn đang làm việc tại phường Bến Thành, TPHCM, bất ngờ rơi từ tầng cao xuống, trúng người đi đường. May mắn, vụ việc không gây thương vong. Ngày 21-10-2026, một thợ điện ở Ninh Bình bị điện giật trong lúc đấu nối cửa cuốn, thoát chết nhờ đồng nghiệp kịp thời ứng cứu. Hai sự cố khác nhau nhưng cùng là lời cảnh báo về những nguy cơ mất an toàn có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng nếu không được phát hiện, xử lý kịp thời.

Nhiều vụ tai nạn lao động (TNLĐ) có thể bắt đầu từ những dấu hiệu tưởng chừng nhỏ: giàn giáo rung lắc, dây điện hở, máy móc phát ra tiếng động bất thường, vật liệu đặt chênh vênh, sàn trơn trượt, thiết bị bảo hộ không bảo đảm... Nếu được phát hiện và khắc phục ngay, nguy cơ có thể được loại trừ. Tuy nhiên, khi những bất thường bị bỏ qua vì chưa gây hậu quả, rủi ro vẫn âm thầm tồn tại.

Những lần suýt xảy ra tai nạn thường ít được chú ý hơn các vụ việc có người tử vong hoặc bị thương nặng. Người lao động (NLĐ) thoát nạn có thể nhanh chóng quay lại công việc; doanh nghiệp (DN) cũng dễ xem sự cố là chuyện may rủi, thay vì nhìn ra những lỗ hổng trong quy trình an toàn. Vì vậy, cần ghi nhận, phân tích cả những sự cố suýt gây tai nạn, xác định nguyên nhân và có biện pháp khắc phục.

nguoi-lao-dong.jpg
Người lao động tham gia huấn luyện tại Viện Khoa học an toàn, vệ sinh lao động TPHCM. Ảnh: HỒNG ĐÀO

Những trăn trở tại diễn đàn Quốc hội

Tại phiên thảo luận tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động, ngày 21-10, trong khuôn khổ Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn trăn trở trước thực tế mỗi năm vẫn xảy ra hàng ngàn vụ TNLĐ, tập trung ở các ngành xây dựng, khai khoáng, điện lực và những công việc trên cao. Công tác bảo đảm an toàn ở khu vực phi chính thức còn nhiều khoảng trống; bệnh nghề nghiệp chưa được phát hiện sớm; hoạt động huấn luyện, kiểm định tại một số nơi còn hình thức, trong khi lực lượng thanh tra mỏng và chế tài chưa đủ sức răn đe.

ThS Nguyễn Thành Lâm, Viện trưởng Viện Khoa học an toàn, vệ sinh lao động TPHCM, cho biết công tác huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động tại nhiều cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu thực tế. TPHCM tập trung nhiều DN, nhiều công trình xây dựng, lực lượng lao động biến động lớn và thuộc nhóm địa phương có số vụ TNLĐ, số người bị nạn cao nhất cả nước. Đặc biệt, tỷ lệ TNLĐ tại TPHCM có nguyên nhân từ việc người sử dụng lao động không tổ chức huấn luyện hoặc huấn luyện chưa đầy đủ tăng từ 6,25% năm 2025 lên 10% trong 6 tháng đầu năm 2026. Tỷ lệ vụ TNLĐ tử vong do NLĐ vi phạm quy trình, quy chuẩn, biện pháp làm việc an toàn cũng tăng từ 15,85% năm 2023 lên 26,67% trong 6 tháng đầu năm 2026.

Theo ông Nguyễn Thành Lâm, tại nhiều DN, cơ sở sản xuất, việc huấn luyện chủ yếu nhằm hợp thức hóa hồ sơ, lập danh sách điểm danh, cấp thẻ an toàn để đối phó. Nội dung nặng lý thuyết, thiếu thực hành; nhiều nơi không bố trí cán bộ chuyên trách về an toàn. NLĐ phần lớn được hướng dẫn công việc theo kiểu truyền miệng, chưa được trang bị đầy đủ kỹ năng nhận diện nguy cơ, đánh giá rủi ro và chủ động phòng tránh.

Đại biểu Huỳnh Quyết Thắng, Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội, đề nghị công khai danh sách các tổ chức huấn luyện đã đăng ký trên cổng thông tin để thuận tiện tra cứu, kiểm tra. Nội dung và thời lượng huấn luyện cần phù hợp vị trí việc làm, mức độ rủi ro; không thể áp dụng chung cho lao động văn phòng và NLĐ làm việc trên cao, trong không gian kín hoặc tiếp xúc với điện, hóa chất. Dự luật cũng cần quy định rõ yêu cầu đánh giá nguy cơ, rủi ro trước khi làm việc, nhất là với nhóm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn yêu cầu kiểm soát chất lượng huấn luyện bằng chuẩn đầu ra, gắn trách nhiệm của tổ chức huấn luyện với cơ chế hậu kiểm thực chất.

Hàng ngàn vụ tai nạn chưa được phản ánh đầy đủ

Theo Thông báo số 11241/TB-BNV ngày 6-10-2026 của Bộ Nội vụ, trong 6 tháng đầu năm 2026, cả nước xảy ra 3.415 vụ TNLĐ, tăng 32,93% so với cùng kỳ năm 2025; có 378 vụ gây chết người, 391 người tử vong và 747 người bị thương nặng. Tỷ lệ DN gửi báo cáo định kỳ về tình hình TNLĐ đến cơ quan quản lý lao động chỉ đạt 17,52% năm 2025 và 23,84% trong 6 tháng đầu năm 2026. Số biên bản điều tra TNLĐ chết người được cơ quan quản lý ở Trung ương tiếp nhận chỉ chiếm khoảng 10,73% tổng số vụ tử vong trên cả nước.

Minh bạch thông tin, rõ trách nhiệm

Một vấn đề khác là tình trạng che giấu, không khai báo TNLĐ, nhất là tại các DN nhỏ và vừa. Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đề nghị hoàn thiện cơ chế tiếp nhận, xử lý thông tin và nghiêm cấm hành vi cản trở NLĐ cung cấp thông tin liên quan đến tai nạn.

Đại biểu Nguyễn Vũ Trung, Đoàn đại biểu Quốc hội TPHCM, đề xuất trao quyền báo tin trực tiếp đến cơ quan có thẩm quyền cho người bị tai nạn, người chứng kiến, thân nhân hoặc đại diện NLĐ. Nếu chỉ phụ thuộc vào báo cáo của người sử dụng lao động, một số vụ việc có thể bị chậm báo, báo thiếu hoặc làm sai lệch thông tin. Đề nghị bổ sung quyền của NLĐ được trực tiếp báo tin, khiếu nại với cơ quan nhà nước về TNLĐ, sự cố và nguy cơ mất an toàn bằng phương thức điện tử, điện thoại hoặc trực tiếp; có cơ chế bảo mật thông tin người báo và nghiêm cấm hành vi trả đũa. Luật cũng cần quy định rõ các hành vi bị cấm như đe dọa, gây sức ép, cản trở việc cung cấp thông tin, che giấu hoặc làm sai lệch hồ sơ tai nạn, can thiệp trái pháp luật vào quá trình điều tra.

Chủ tịch Quốc hội đề nghị Chính phủ rà soát, hoàn thiện quy định xử phạt đối với hành vi cố ý vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng. Từ những sự cố suýt gây tai nạn đến những vụ việc để lại hậu quả nặng nề, phát hiện và xử lý kịp thời nguy cơ mất an toàn tại nơi làm việc luôn là khâu then chốt. DN cần kiểm tra an toàn trước ca làm việc, khắc phục ngay những bất thường, ghi nhận các sự cố suýt gây tai nạn. NLĐ cần tuân thủ quy trình, chủ động phản ánh nguy cơ thiếu an toàn.

* TS ĐINH HOÀNG HÀ, Trưởng Văn phòng đại diện Học viện Hanbridge Singapore tại Việt Nam:

Quản lý thiết bị nguy hiểm bằng dữ liệu số

Nên bổ sung vào Luật An toàn, vệ sinh lao động nguyên tắc quản lý máy móc, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ trên nền tảng số theo toàn bộ vòng đời, từ khi đưa vào sử dụng đến khi ngừng sử dụng, thanh lý hoặc thải bỏ. Mỗi thiết bị có mã định danh riêng và hồ sơ điện tử ghi nhận chủ sở hữu, địa điểm sử dụng, tình trạng kiểm định, lịch sử bảo trì, sửa chữa, chuyển giao. Quy định rõ cơ quan đầu mối quản trị dữ liệu, trách nhiệm cập nhật thông tin của DN, đơn vị kiểm định và các bên liên quan.

Theo kinh nghiệm Singapore, việc đăng ký, tái đăng ký và xóa đăng ký đối với một số thiết bị nguy hiểm giúp tăng cường giám sát, truy xuất thông tin. Việt Nam có thể nghiên cứu cách làm này, ưu tiên thiết bị có nguy cơ cao nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thủ tục hành chính và chủ động phòng ngừa TNLĐ.

* Luật sư ĐÀO TIẾN PHONG, Công ty luật Investpush Legal:

Xác định rõ trách nhiệm khi lao động thời vụ gặp nạn

Tại một số công trường xây dựng, cơ sở sản xuất nhỏ, NLĐ được tuyển dụng thông qua tổ trưởng, nhóm nhận khoán, ứng dụng kết nối thợ hoặc thỏa thuận trực tiếp bằng lời nói. Khi xảy ra TNLĐ, việc xác định người sử dụng lao động, trách nhiệm bảo đảm an toàn, chi phí điều trị và bồi thường có thể phát sinh tranh chấp.

Khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019 xác định quan hệ lao động dựa trên các yếu tố như việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên. Vì vậy, việc có hay không có hợp đồng lao động bằng văn bản không phải căn cứ duy nhất để xác định quyền được pháp luật bảo vệ của NLĐ. Luật An toàn, vệ sinh lao động cũng có quy định áp dụng đối với người làm việc không theo hợp đồng lao động.

PHƯƠNG TRANG - HỒNG ĐÀO ghi

Tin cùng chuyên mục