Thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng và các Phó Thủ tướng thường xuyên chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước triển khai các giải pháp tăng khả năng cung ứng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn để doanh nghiệp tiếp cận, hấp thụ vốn tốt hơn; kiểm soát chất lượng tín dụng, nợ xấu và bảo đảm an toàn hệ thống.
Trong nỗ lực hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số năm 2026, khơi thông dòng vốn tín dụng là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh.
Tuy nhiên, thông điệp nhất quán được Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng nhấn mạnh tại buổi làm việc ngày 10-8 với các bộ, ngành, địa phương, ngân hàng và doanh nghiệp về tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận vốn tín dụng là không thể đạt tăng trưởng bền vững nếu mở rộng tín dụng bằng mọi giá, hạ chuẩn tín dụng. Tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với chất lượng tín dụng và an toàn hệ thống; khơi thông dòng vốn, giảm chi phí vốn, đổi mới phương thức cho vay, không để doanh nghiệp có dự án tốt, có thị trường, có khả năng trả nợ nhưng không tiếp cận được vốn chỉ vì những thủ tục, điều kiện không cần thiết.
Để tăng khả năng cung ứng vốn, Ngân hàng Nhà nước đã có những bước đi kỹ thuật khi nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước trong tỷ lệ LDR (dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi) lên 50% và nới trần vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn lên 40%. Những điều chỉnh này góp phần đáp ứng nhu cầu vốn tăng thêm khoảng 1,7 triệu tỷ đồng của 35 dự án trọng điểm. Tuy nhiên, tăng cung tín dụng mới chỉ là một phía của bài toán. Khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế mới quyết định hiệu quả của dòng vốn.
Nghịch lý hiện nay là nhiều doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận vốn trong khi hệ thống ngân hàng đang nỗ lực mở rộng tín dụng. Vì vậy, giải pháp căn cơ không phải hạ chuẩn tín dụng, mà là đổi mới phương thức thẩm định, đánh giá sát hơn khả năng trả nợ và hiệu quả phương án kinh doanh. Thay vì quá phụ thuộc vào tài sản bảo đảm, ngân hàng có thể từng bước tăng cường đánh giá dựa trên dòng tiền, hợp đồng, đơn hàng, năng lực quản trị và “sức khỏe” thực chất của doanh nghiệp. Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu về thuế, hóa đơn điện tử, hải quan, lịch sử tín dụng và các dữ liệu hợp pháp khác sẽ là “chìa khóa” để ngân hàng có thêm cơ sở đánh giá, thẩm định khách hàng, qua đó mở rộng tín dụng mà không phải hạ thấp các tiêu chuẩn an toàn.
Tuy vậy, tín dụng ngân hàng cũng không thể trở thành kênh cung ứng vốn duy nhất cho nền kinh tế, nhất là đối với nhu cầu vốn trung và dài hạn. Trong khi nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng chủ yếu là ngắn hạn, nhu cầu vốn trung và dài hạn rất lớn, luôn đặt ra yêu cầu kiểm soát rủi ro kỳ hạn. Do đó, cùng với tín dụng ngân hàng, thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp và các kênh huy động vốn khác cũng cần được phát triển lành mạnh để chia sẻ áp lực với hệ thống tín dụng.
Ở phía doanh nghiệp, việc chủ động củng cố năng lực nội tại cũng có ý nghĩa quyết định. Doanh nghiệp khó có thể kỳ vọng ngân hàng nới lỏng điều kiện vay nếu chính mình chưa minh bạch tài chính, chưa nâng cao năng lực quản trị và sử dụng vốn đúng mục đích. Xây dựng uy tín tín dụng và văn hóa kinh doanh lành mạnh chính là tài sản vô hình giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý.
Khơi thông dòng vốn đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa Chính phủ, ngân hàng và doanh nghiệp. Trong đó, việc tháo gỡ các vướng mắc pháp lý ngoài ngành ngân hàng như đất đai, quy hoạch sẽ là chất xúc tác quan trọng để dòng tiền chảy nhanh hơn và đúng hướng.
Tăng trưởng tín dụng và an toàn hệ thống không phải hai mục tiêu đối lập. Vấn đề là tăng khả năng cung ứng vốn phải đi cùng nâng cao khả năng hấp thụ, chất lượng thẩm định và kiểm soát rủi ro. Đẩy tín dụng nhưng không hạ chuẩn, mở rộng dòng vốn nhưng không để nợ xấu tích tụ - đó mới là cách để tín dụng thực sự trở thành động lực cho tăng trưởng bền vững.