Giáo viên thay đổi cách dạy
Theo thầy Nguyễn Đức Uy, giáo viên Ngữ văn, Trường THCS Trần Văn Ơn, phường Tân Định, hiện nay học sinh có lợi thế rất lớn khi các em được tiếp cận với nhiều nguồn thông tin, từ sách, báo đến mạng xã hội, video, podcast. Nhiều em khi vào một văn bản có những phát hiện rất thú vị, những góc nhìn rất riêng.
Dù vậy, thầy Uy thừa nhận, do khả năng tiếp cận thông tin nhanh nên một số em còn gặp khó khăn khi suy luận, phân tích ý nghĩa hoặc liên hệ vấn đề của văn bản với thực tế cuộc sống. Khả năng cảm thụ văn chương không sâu, lối viết văn còn hời hợt, thiếu cảm xúc.
Thực tế này, theo thầy Uy, yêu cầu dạy đọc hiểu ở trường cần thay đổi, khi không chỉ giúp học sinh tìm đáp án, mà quan trọng hình thành cho các em thói quen đọc chủ động, biết đặt câu hỏi, biết suy nghĩ và biết đối thoại với văn bản.
“Để tăng khả năng đọc hiểu của học sinh đòi hỏi giáo viên cũng phải thay đổi cách dạy. Không đặt nặng việc truyền đạt cho học sinh “đáp án đúng”, mà phải chuyển sang tổ chức để các em tự đọc, tự phát hiện, đặt câu hỏi và bảo vệ cách hiểu của mình. Trong giờ học, giáo viên cần tăng cường các hoạt động thảo luận, tranh biện, liên hệ thực tế, đồng thời sử dụng công nghệ và AI ở mức phù hợp để tạo những tình huống đọc gần gũi với học sinh. Đặc biệt, chú trọng cho các em đọc nhiều dạng văn bản để các em biết đọc không chỉ để làm bài thi mà còn đọc để hiểu, để suy nghĩ và ứng xử với cuộc sống”, thầy Uy chỉ rõ.
Thay đổi phương pháp giảng dạy là yêu cầu đặt ra khi khả năng đọc hiểu của học sinh suy giảm Tại TPHCM, từ năm 2014 kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 đã tăng cường ứng dụng thực tiễn vào đề thi. Không dừng ở kiểm tra, đánh giá kiến thức môn học thuần túy, đề thi đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng khả năng tư duy, ứng dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Tuy nhiên, thầy Đặng Hữu Trí, giáo viên Toán, Trường THCS Nguyễn Du, phường Bến Thành, nhìn nhận khả năng đọc hiểu suy giảm đang là một trong những rào cản lớn nhất của học sinh, đặc biệt qua các bài toán thực tế.
“Đứng trước một bài toán thực tế dài từ 5-10 dòng như bài toán tính tiền điện lũy tiến, tính giá vé khuyến mãi, lãi suất ngân hàng, hình học không gian mô phỏng kiến trúc..., phản xạ đầu tiên của nhiều em là hoảng loạn, đọc lướt hoặc bỏ trắng dù bản chất toán học rất cơ bản. Các em rất dễ bị phân tâm bởi các yếu tố bối cảnh dẫn nhập và bỏ sót các ràng buộc quan trọng”, thầy Trí dẫn chứng.
Theo thầy Trí, lối dạy- học truyền thống rèn cho học sinh phản xạ nhận diện dạng bài dựa trên ký hiệu toán học có sẵn, do vậy khi bài toán “giấu” công thức đằng sau ngữ cảnh đời thực, các em mất điểm tựa và không biết bắt đầu từ đâu. Trong khi đó, quy trình giải toán thực tế gồm 3 bước: Đọc hiểu bối cảnh; Mô hình hóa sang toán và Giải và đối chiếu thực tế. Đa phần học sinh bị “gãy” hoàn toàn ở khâu chuyển tiếp từ đọc hiểu sang mô hình hóa.
Để tăng khả năng đọc hiểu cho học sinh, theo thầy Trí, phương pháp dạy học gắn với thực hành, thực nghiệm cần được triển khai đồng bộ ở tất cả các bộ môn, xuyên suốt ở các khối lớp, bậc học, từ đó tạo nền tảng để học sinh tư duy, phản biện, tranh luận, nhìn nhận vấn đề. Đặc biệt, với môn toán, quá trình dạy học đòi hỏi giáo viên phải tăng cường ứng dụng thực tiễn để toán học gần gũi với thực tế, đi từ những bài toán thực tế đơn giản đến những bài toán thực tế với nhiều lớp lang…
Nhất quán phát triển năng lực và kiểm tra đánh giá
ThS Trần Lê Duy, giảng viên Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm TPHCM cho rằng, kết quả đọc hiện nay đặt ra vấn đề đáng quan tâm đối với một số năng lực nền tảng của tư duy phản biện. Đặc biệt là chất lượng của hoạt động đọc: học sinh có thể duy trì sự chú ý khi đọc một văn bản dài hay không; có biết kết nối nhiều nguồn, kiểm chứng thông tin, đánh giá bằng chứng và hình thành một phán đoán độc lập hay không.
Đứng trước những câu hỏi này, theo ThS Trần Lê Duy vai trò của giáo viên cần chuyển dần từ những câu hỏi chỉ yêu cầu tìm thông tin sang những câu hỏi buộc học sinh phải lý giải quá trình hình thành nhận định của mình. Khi đó, học sinh không chỉ tìm một đáp án mà phải thể hiện con đường tư duy để đi đến đáp án. Bên cạnh đó, cần tạo nhiều cơ hội hơn cho học sinh làm việc với những văn bản đủ dài và đủ phức tạp. Nếu người học chỉ thường xuyên tiếp xúc với những đoạn trích rất ngắn rồi trả lời các câu hỏi nhỏ lẻ, các em sẽ khó hình thành sức bền đọc hay xử lý nhiều lớp thông tin cùng lúc.
Đặc biệt, ông nhấn mạnh, nhà trường cần nhìn nhận năng lực đọc và phản biện là trách nhiệm chung của nhiều môn học, chứ không chỉ riêng môn Ngữ văn. Trong Lịch sử, học sinh cần biết đánh giá nguồn sử liệu; trong Khoa học, cần biết đọc dữ liệu, kiểm tra bằng chứng và phân biệt tương quan với quan hệ nhân quả; trong Địa lí, cần biết đọc bảng biểu, bản đồ và đối chiếu các nguồn thông tin. Đó đều là những biểu hiện của năng lực đọc hiện đại.
“Điểm then chốt là cấp quản lý cần bảo đảm sự nhất quán giữa mục tiêu phát triển năng lực với cách kiểm tra, đánh giá. Nếu chương trình nói đến tư duy phản biện, đọc sâu và năng lực giải quyết vấn đề nhưng bài kiểm tra vẫn chủ yếu thưởng cho việc tái hiện kiến thức hoặc lặp lại một cách hiểu mẫu, thì giáo viên và học sinh rất khó dành đủ thời gian cho những hoạt động đọc và tư duy ở mức cao hơn”, ThS Trần Lê Duy nhấn mạnh.