LTS: Làn sóng đầu tư mới đang mở ra cơ hội để Việt Nam cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu. Vấn đề đặt ra không chỉ là thu hút thêm vốn mà phải tăng khả năng hấp thụ, đưa công nghệ và doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, qua đó biến dòng vốn ngoại thành năng lực tăng trưởng dài hạn.
Dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào Việt Nam tăng mạnh trong 8 tháng năm 2026, với tổng vốn đăng ký đạt 40,63 tỷ USD, tăng 55,4% so với cùng kỳ. Thực tế này đặt ra yêu cầu rút ngắn thời gian đưa dự án vào hoạt động và chuẩn bị đồng bộ về hạ tầng, nhân lực để đón các dự án sản xuất, công nghệ có giá trị cao.
Lĩnh vực sản xuất giá trị cao hút vốn ngoại
Dòng vốn ngoại đang tăng tốc vào những lĩnh vực sản xuất có giá trị cao. Cuối tháng 7-2026, TP Hải Phòng cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư dự án sản xuất chất nền, đế mạch đóng gói bán dẫn của LG Innotek Việt Nam với tổng vốn 1 tỷ USD. Samsung cũng có kế hoạch đầu tư khoảng 1,5 tỷ USD cho cơ sở kiểm thử chất bán dẫn tại Thái Nguyên. Cùng thời điểm, DHL Supply Chain khởi công khu logistics trị giá 1.900 tỷ đồng tại Hưng Yên.
Theo PGS-TS Nguyễn Thường Lạng, chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, sức hút FDI hiện nay là kết quả của quá trình chuẩn bị nhiều năm, cùng lợi thế về thị trường, lao động và hội nhập quốc tế. Việt Nam đã hình thành hệ sinh thái FDI trong nhiều ngành như điện tử, máy tính, cơ khí, chế biến - chế tạo. Khi các tập đoàn lớn đã xây dựng cơ sở sản xuất, việc mở rộng công suất và kéo thêm nhà cung ứng vào Việt Nam thuận lợi hơn. Xu hướng này thể hiện rõ qua quy mô dòng vốn mới.
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tính đến ngày 31-8, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt 40,63 tỷ USD, tăng 55,4% so với cùng kỳ. Trong đó, 2.771 dự án được cấp mới, tăng 9,4% so với cùng kỳ; tổng vốn đăng ký 21,72 tỷ USD, tăng tới 96,8%, cho thấy quy mô dự án mới tăng đáng kể. Công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với 12,15 tỷ USD vốn đăng ký mới, chiếm 55,9%.
Một điểm đáng chú ý khác là tốc độ tăng giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện có khoảng cách khá lớn. Trong khi tổng vốn đăng ký tăng 55,4%, vốn thực hiện đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12%. Qua đó phần nào phản ánh độ trễ từ quyết định đầu tư đến triển khai dự án, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng khả năng hấp thụ dòng vốn, rút ngắn quá trình từ đăng ký đầu tư đến khi nhà máy, công nghệ và năng lực sản xuất mới thực sự đi vào nền kinh tế.
Tại TPHCM, xu hướng tăng vốn cũng thể hiện rõ. Giám đốc Sở Tài chính TPHCM Hoàng Vũ Thảnh thông tin, 8 tháng đầu năm, thành phố thu hút hơn 10,06 tỷ USD vốn FDI, tăng 167,3% so với cùng kỳ. Trong đó, 1.364 dự án cấp mới với tổng vốn hơn 3,73 tỷ USD (riêng lĩnh vực KH-CN thu hút 467 dự án mới, vốn đăng ký hơn 599 triệu USD).
TPHCM đang ưu tiên thu hút đầu tư vào công nghệ cao, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu, nghiên cứu và phát triển (R&D), logistics, tài chính quốc tế và kinh tế xanh. Quy mô vốn tăng nhanh cùng sự dịch chuyển vào sản xuất, công nghệ và những mắt xích mới của chuỗi cung ứng cho thấy Việt Nam đang đứng trước thời điểm thuận lợi để nâng chất dòng vốn ngoại.
Chuẩn bị hệ sinh thái đón dòng vốn mới
Khi dòng vốn hướng nhiều hơn vào bán dẫn, AI, trung tâm dữ liệu, R&D và sản xuất tiên tiến, tiêu chí lựa chọn địa điểm đầu tư cũng thay đổi. Bên cạnh đất đai và chi phí lao động, nhà đầu tư ngày càng đòi hỏi cao về khả năng cung ứng điện, logistics, hạ tầng số, môi trường chính sách, bảo hộ sở hữu trí tuệ và bảo mật công nghệ. Vì vậy, cạnh tranh FDI đang chuyển dần từ ưu đãi sang mức độ sẵn sàng của điểm đến.
Theo TS Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư trước đây), muốn thu hút FDI chất lượng cao, Việt Nam nên tập trung phát triển hạ tầng công nghệ quốc gia, chuẩn bị nguồn nhân lực cho những ngành công nghệ mới và tận dụng nền sản xuất FDI hiện hữu để triển khai công nghệ mới, nâng năng suất. Yêu cầu về hạ tầng do đó đã vượt khỏi câu chuyện quỹ đất khu công nghiệp. Các dự án bán dẫn, AI, trung tâm dữ liệu hay R&D cần nguồn điện ổn định, hạ tầng số, năng lực tính toán, logistics và đội ngũ kỹ sư chuyên môn cao và những điều kiện này phải được chuẩn bị trước để rút ngắn khoảng thời gian từ quyết định đầu tư đến khi dự án vận hành.
TPHCM là một trường hợp cho thấy yêu cầu chuẩn bị đồng bộ này khi dòng vốn đang tập trung mạnh. Không gian phát triển mới tạo khả năng bổ trợ giữa nền sản xuất và quỹ đất công nghiệp của khu vực Bình Dương trước đây, cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải với lợi thế tài chính, dịch vụ, đổi mới sáng tạo và công nghệ cao của TPHCM.
Theo ông Bùi Minh Trí, Trưởng Ban Quản lý Các khu chế xuất và công nghiệp TPHCM (HEPZA), những khu công nghiệp mới được định hướng theo mô hình “khu công nghiệp đô thị dịch vụ xanh”, dành quỹ đất thu hút các ngành công nghệ cao, bán dẫn và khởi nghiệp sáng tạo. Sự chuẩn bị còn đi vào hạ tầng chuyên biệt.
Tại Khu Công nghệ cao TPHCM (SHTP), khoảng 52,92ha được dành cho Trung tâm Phát triển Công nghệ chiến lược, tập trung AI, trung tâm dữ liệu, vi mạch bán dẫn và R&D. Ông Nguyễn Kỳ Phùng, Trưởng Ban Quản lý SHTP, cho biết, trung tâm được thiết kế như một hệ sinh thái cho các tập đoàn và nhà phát triển công nghệ lõi, với trạm cấp điện độc lập khoảng 63MW và kết nối trực tiếp 15 tuyến cáp quang quốc tế.
Chủ động tạo thế mạnh cạnh tranh
Ở phạm vi khu vực, mức độ sẵn sàng của điểm đến, liên quan đến logistics và hạ tầng xanh, sẽ tác động ít nhiều đến quyết định của nhà đầu tư.
Tại Đối thoại Hữu nghị TPHCM lần thứ 3 - năm 2026 mới đây, ông Grant Smith, Thị trưởng TP Palmerston North (New Zealand), giới thiệu dự án Te Utanganui với định hướng hình thành trung tâm phân phối đa phương thức quy mô lớn, kết nối các phương thức vận tải và chuỗi cung ứng.
Trong khi đó, Phó Thống đốc Vùng Thủ đô Tokyo Tomohide Sato cho biết Tokyo đang triển khai pin nhiên liệu hydro cho thiết bị bốc dỡ, điện mặt trời trên mái kho và cấp điện bờ cho tàu biển nhằm giảm phát thải của hệ thống cảng.
Những dự án này cho thấy, cơ hội từ làn sóng FDI mới không dễ nắm bắt nếu các địa phương không chủ động nâng cấp nguồn lực, hạ tầng kỹ thuật. Khi nhiều địa phương cùng cạnh tranh thu hút những dự án công nghệ cao, thì khả năng cung cấp đồng bộ điện, hạ tầng số, logistics, năng lượng sạch, nhân lực và kết nối chuỗi cung ứng sẽ quyết định điểm đến của dòng vốn và thời gian triển khai.