Bịt lỗ hổng trong chuỗi cung ứng thịt heo

Chỉ đến khi 201 con heo chuẩn bị vào lò mổ tại TPHCM, cơ quan chức năng mới phát hiện heo dương tính với Salbutamol. Cuộc truy xuất sau đó xác định thêm hơn 4.100 con heo tại TP Đồng Nai dương tính với hoạt chất này. Rõ ràng đang có những lỗ hổng trong kiểm soát chuỗi cung ứng thịt heo.

Có giấy kiểm dịch vẫn dương tính với chất cấm

Ngày 26-7, lực lượng chức năng tại TPHCM kiểm tra các xe tải chở hơn 201 con heo từ TP Đồng Nai về TPHCM để giết mổ. Mặc dù số heo này có giấy chứng nhận kiểm dịch được cấp trong ngày, song kết quả kiểm tra nhanh cho thấy toàn bộ 201 con đều dương tính với Salbutamol. Hoạt chất này thuộc nhóm Beta-agonist, được phép sử dụng trong y tế để điều trị hen suyễn và một số bệnh hô hấp, nhưng bị cấm sử dụng trong chăn nuôi do có tác dụng tạo nạc.

h5b-3585-6773-blur.jpg
Lực lượng chức năng kiểm tra cơ sở giết mổ, kinh doanh thịt heo tại phường Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Ảnh: VĂN GIANG

Từ vụ việc trên, cơ quan chức năng của TP Đồng Nai mở rộng truy xuất nguồn gốc và kiểm tra đàn heo tại các cơ sở chăn nuôi. Đến ngày 5-8, Chi cục Chăn nuôi và Thủy sản TP Đồng Nai đã phát hiện tổng cộng hơn 4.100 con heo dương tính với Salbutamol tại 1 cơ sở và 6 trại chăn nuôi, vỗ béo heo. Vụ việc đặt ra câu hỏi lớn đối với công tác quản lý an toàn thực phẩm: chất Salbutamol đã được đưa vào đàn heo ở công đoạn nào, và cơ chế kiểm soát hiện nay có đủ khả năng phát hiện trước khi heo được đưa đến cơ sở giết mổ?

Thịt heo là thực phẩm chủ lực trong bữa ăn của người Việt. Theo Bộ NN-MT, thịt heo chiếm khoảng 63% tổng sản lượng thịt hơi của cả nước. Năm 2025, sản lượng thịt heo hơi đạt 5,42 triệu tấn, bình quân mỗi người tiêu thụ khoảng 37kg thịt heo mỗi năm. Với tổng đàn hơn 26 triệu con, chỉ cần một mắt xích trong chuỗi kiểm soát bị buông lỏng, nguy cơ thực phẩm không bảo đảm an toàn xâm nhập thị trường sẽ ảnh hưởng rất lớn đến người tiêu dùng.

Kiểm soát chặt từ đầu

Sau vụ việc phát hiện hàng ngàn con heo dương tính với Salbutamol tại TPHCM và TP Đồng Nai, Cục Chăn nuôi và Thú y (Bộ NN-MT) đã có văn bản khẩn gửi các sở NN-MT đề nghị phối hợp liên ngành kiểm tra đột xuất tại các cửa ngõ, cơ sở thu gom vỗ béo, chợ đầu mối và lò giết mổ. Bên cạnh đó, Cục Chăn nuôi và Thú y sẽ triển khai các đợt lấy mẫu giám sát diện rộng đối với cả 3 nhóm rủi ro: thức ăn chăn nuôi gia công, mẫu nước tiểu vật nuôi tại cơ sở vỗ béo, mẫu thịt (nội tạng) tại các lò giết mổ.

Theo các chuyên gia, những biện pháp này chủ yếu ngăn chặn vi phạm ở khâu cuối. Muốn ngăn tận gốc, việc kiểm soát phải bắt đầu từ nguồn cung hóa chất, thức ăn chăn nuôi và các cơ sở vỗ béo - nơi các chất tạo nạc thường được đưa vào đàn heo trước khi xuất bán.

Theo TS Nguyễn Duy Thịnh, nguyên cán bộ Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm (Đại học Bách khoa Hà Nội), Salbutamol và các chất tạo nạc thuộc nhóm Beta-agonist thường được trộn vào thức ăn trong khoảng 15-30 ngày cuối trước khi heo xuất chuồng để tăng tỷ lệ nạc và tăng trọng. Người chăn nuôi thường bán heo ngay sau khi sử dụng nên nguy cơ tồn dư trong thịt vẫn còn.

Vụ việc cũng cho thấy, siết kiểm tra sau mỗi vụ phát hiện sẽ khó tạo chuyển biến bền vững nếu những bất cập trong quản lý chưa được xử lý đồng bộ. Bên cạnh tăng cường thanh tra, kiểm tra, cần rà soát toàn bộ cơ chế quản lý các hoạt chất thuộc nhóm Beta-agonist và các tiền chất có nguy cơ bị lợi dụng trong chăn nuôi; kiểm soát chặt từ khâu nhập khẩu, phân phối đến sử dụng, đồng thời hoàn thiện các quy định còn chồng chéo hoặc thiếu thống nhất để không tạo kẽ hở cho việc tuồn hóa chất vào chuỗi sản xuất. Ngoài ra, với những vụ việc nghiêm trọng, cần chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để xử lý hình sự đối với những chủ trang trại, thương lái, cơ sở giết mổ cố tình đưa chất cấm vào chuỗi thực phẩm (Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, theo Điều 317 Bộ luật Hình sự).

Nguy cơ không chỉ từ chất tạo nạc

PGS-TS Trần Thị Bích Ngọc, Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam, cho biết, việc lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi cũng gây nguy cơ lớn đối với an toàn thực phẩm. Tồn dư kháng sinh trong thực phẩm không chỉ ảnh hưởng sức khỏe người tiêu dùng mà còn làm gia tăng tình trạng kháng kháng sinh. Theo PGS-TS Trần Thị Bích Ngọc, cần tăng cường giám sát, kiểm nghiệm tồn dư kháng sinh trong thức ăn, nước uống và sản phẩm chăn nuôi, đồng thời kiểm soát chặt việc sử dụng kháng sinh ngay từ khâu sản xuất.

Tin cùng chuyên mục