Dữ liệu sản xuất: Chìa khóa mở rộng thị trường nông sản

Hiện cả nước mới có 1,2% nông hộ đăng ký trên hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ NN-MT cung cấp đầy đủ dữ liệu. Khoảng trống này đang đặt ra thách thức cho các hợp tác xã (HTX) trong việc đáp ứng yêu cầu của hệ thống phân phối hiện đại.

Sản phẩm có truy xuất nguồn gốc rõ ràng rộng cửa vào siêu thị (ẢNH: MINH XUÂN)
Sản phẩm có truy xuất nguồn gốc rõ ràng rộng cửa vào siêu thị (ẢNH: MINH XUÂN)

Có mã truy xuất nhưng thiếu dữ liệu

Theo ông Đào Ngọc Tuất, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số, Bộ NN-MT, tính đến ngày 31-8-2026, hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ ghi nhận 793.623 sản phẩm đăng ký, nhưng chỉ 158.451 sản phẩm có đầy đủ thông tin truy xuất, tương đương khoảng 20%.

Đáng chú ý, trong số 3.013 nông hộ đăng ký trên hệ thống, chỉ có 36 hộ cung cấp đủ dữ liệu, chiếm 1,2%. Những con số này cho thấy khoảng cách giữa việc đăng ký truy xuất nguồn gốc và khả năng cung cấp thông tin đầy đủ về quá trình sản xuất.

Trong chia sẻ gần đây, bà Lê Thị Thu Thủy, Phó Viện trưởng Viện Phát triển doanh nghiệp thuộc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nhìn nhận, khả năng ứng dụng công nghệ, quản lý thông tin sản phẩm giữa các doanh nghiệp chưa đồng đều, nhất là ở nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, cơ sở sản xuất. Theo bà Thủy, truy xuất nguồn gốc không dừng ở việc gắn mã QR trên bao bì. Một hệ thống hiệu quả phải có dữ liệu được cập nhật, cơ sở và khả năng đối chiếu. Nếu mã truy xuất chỉ cung cấp những thông tin giới thiệu đơn giản, không phản ánh đầy đủ quá trình sản xuất và lưu thông, giá trị quản lý và xác thực nguồn gốc sản phẩm sẽ hạn chế.

Từ thực tiễn hoạt động của HTX, ông Nguyễn Hoàng Linh, Giám đốc HTX Nghiên cứu ứng dụng và phát triển nông nghiệp thông minh, cho biết, tỷ lệ HTX ứng dụng mã QR để truy xuất nguồn gốc mới ở mức khoảng 35%. Tuy nhiên, năng lực cung cấp và cập nhật dữ liệu thực tế vẫn còn khoảng cách lớn so với thông tin đã đăng ký trên hệ thống. Theo ông, nhiều HTX gặp khó khăn do đội ngũ quản lý, thành viên lớn tuổi, thiếu kỹ năng công nghệ, ngại nhập dữ liệu và phải phụ thuộc vào đơn vị tư vấn bên ngoài. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ không chỉ cần phần mềm mà còn đòi hỏi thay đổi cách ghi chép, quản lý thông tin ngay từ khâu sản xuất.

Điều này đang là rào cản khiến sản phẩm của các HTX khó tiếp cận kênh bán lẻ hiện đại. Bởi theo bà Nguyễn Thị Kim Dung, Giám đốc Co.opmart Hà Nội, để đưa hàng vào siêu thị, HTX phải đáp ứng đồng thời các yêu cầu về hồ sơ pháp lý, chất lượng ổn định, truy xuất nguồn gốc, khả năng cung ứng, giá cả cũng như nhãn mác trên sản phẩm.

Chuẩn hóa dữ liệu gắn với nhu cầu thị trường

Theo đại diện Saigon Co.op, để đáp ứng những yêu cầu này, ngoài việc nâng cao chất lượng sản phẩm, các HTX còn phải thay đổi cách quản lý thông tin trong quá trình sản xuất và cung ứng hàng hóa. “Việc chuẩn hóa thông tin sản phẩm, tiêu chuẩn chất lượng và dữ liệu truy xuất nguồn gốc theo các tiêu chuẩn GS1/ TCVN ngày càng quan trọng đối với các đơn vị muốn tham gia hệ thống phân phối hiện đại. Thông tin được quản lý thống nhất sẽ giúp kiểm soát hàng hóa từ vùng nguyên liệu đến khâu phân phối, đồng thời tạo thuận lợi cho HTX trong quá trình kết nối thị trường”, bà Lương Thị Kiều Lan Chi, Giám đốc khu vực miền Bắc của Saigon Co.op, cho biết.

Đồng hành với khó khăn của các cơ sở, HTX, tháng 8-2026, Saigon Co.op đã phối hợp với Trung tâm Mã số mã vạch quốc gia triển khai thí điểm hệ thống truy xuất nguồn gốc đối với 5 sản phẩm của 5 nhà cung cấp đang kinh doanh trong hệ thống. Các mặt sản phẩm này gồm: bưởi da xanh của HTX cây ăn trái Tân Mỹ, dưa lưới của HTX TM-DVNN Phúc Lợi, cải bó xôi của Công ty TNHH Xuân Thái Thịnh, cà chua ngọc bích của Công ty TNHH Dalat Hasfarm và cá thát lát của Công ty CP Thực phẩm Phạm Nghĩa.

Điểm đáng chú ý là chương trình không dừng ở việc gắn mã QR trên bao bì. Các nhà cung cấp được cấp tài khoản, đào tạo và hướng dẫn cập nhật thông tin sản phẩm, vùng trồng, vùng nuôi, từng lô hàng và quá trình luân chuyển hàng hóa. Dữ liệu được tổ chức theo các công đoạn từ sản xuất, thu hoạch, sơ chế, đóng gói đến vận chuyển, nhập kho và phân phối tại điểm bán.

Trong số các đơn vị tham gia thí điểm, HTX TM-DVNN Phúc Lợi (tỉnh Tây Ninh) là trường hợp cho thấy hiệu quả của việc gắn sản xuất theo tiêu chuẩn với hợp đồng tiêu thụ ổn định. Theo ông Phạm Ngọc Hải Anh, Giám đốc HTX TM-DVNN Phúc Lợi, HTX tổ chức sản xuất dưa lưới ứng dụng công nghệ cao, kiểm soát quy trình canh tác và cung ứng khoảng 300 tấn sản phẩm mỗi năm cho Saigon Co.op. “Sản phẩm thu hoạch được hệ thống ký hợp đồng tiêu thụ toàn bộ, giúp các thành viên yên tâm sản xuất. Với mô hình này, mỗi 1.000m2 trồng dưa lưới mang lại lợi nhuận khoảng 100 triệu đồng/ năm”, ông Hải Anh cho biết.

Tin cùng chuyên mục