PGS-TS-BS Lê Hồng Quang, Trưởng khoa Ngoại vú, Bệnh viện K, cho biết các bác sĩ vừa phẫu thuật tái tạo, tạo hình hai bên vú cho bệnh nhân P.T.B.L., 55 tuổi, trong khuôn khổ chương trình “Tháng 10 hồng” - Tháng nâng cao nhận thức về ung thư vú.
Trước đó, bệnh nhân được chẩn đoán ung thư vú phải giai đoạn 2. Sau 8 chu kỳ hóa chất, phẫu thuật cắt tuyến vú phải và xạ trị, tình trạng bệnh hiện ổn định. Tuy nhiên, việc mất một bên vú ảnh hưởng đến hình thể, khiến người bệnh mong muốn được tái tạo để cải thiện sự cân đối. Sau khi thăm khám, đánh giá tình trạng sức khỏe và tiền sử điều trị, các bác sĩ xác định bệnh nhân đủ điều kiện phẫu thuật.
Ê kíp sử dụng vạt cơ thẳng bụng để tái tạo vú phải, kết hợp đặt túi ngực bên trái nhằm tạo sự hài hòa giữa hai bên. Ca phẫu thuật kết hợp ba mục tiêu: lấy mô vùng bụng, tái tạo bên ngực đã cắt tuyến vú và tạo hình bên còn lại.
Với phương pháp này, bác sĩ sử dụng mô tự thân từ vùng bụng để tái tạo thể tích bên ngực phải. Theo PGS-TS-BS Lê Hồng Quang, đây là kỹ thuật đòi hỏi đánh giá kỹ lượng mô có thể sử dụng, đặc điểm giải phẫu và hệ thống mạch máu nuôi vạt, nhằm bảo đảm mô sau chuyển ghép có khả năng sống và phục hồi tốt. Trong khi đó, túi ngực được sử dụng để tạo hình bên còn lại, hướng tới sự cân đối về hình thể.
Quá trình lựa chọn phương pháp phẫu thuật cần căn cứ vào tình trạng sức khỏe, tiền sử điều trị, đặc điểm giải phẫu và nhu cầu của từng người bệnh. Với những trường hợp đã trải qua xạ trị, bác sĩ sẽ cân nhắc các yếu tố liên quan đến mô tại vùng phẫu thuật để lựa chọn phương án phù hợp. Không phải bệnh nhân nào sau khi cắt tuyến vú cũng có thể áp dụng cùng một kỹ thuật tái tạo.
Sau phẫu thuật, người bệnh cần được theo dõi để phát hiện sớm biến chứng và quá trình hồi phục.
Theo Bệnh viện K, trước đây, khoảng 3/4 bệnh nhân đến khám khi bệnh đã ở giai đoạn muộn. Những năm gần đây, tình hình chuyển biến tích cực, với khoảng 3/4 trường hợp được phát hiện ở giai đoạn sớm. PGS-TS-BS Lê Hồng Quang cho biết, khoảng 85-90% bệnh nhân ung thư vú có thể sống trên 5 năm, tỷ lệ này đang tiệm cận các nước phát triển.
Tại Việt Nam, theo Cục Bà mẹ và Trẻ em (Bộ Y tế), ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới, với 24.563 ca mắc mới và khoảng 10.000 ca tử vong mỗi năm. Hơn 60% người bệnh được phát hiện ở giai đoạn 3 và 4, trong khi tỷ lệ sống thêm sau 5 năm khoảng 74%.
Theo Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC), năm 2024, thế giới ghi nhận gần 2,5 triệu ca mắc mới và gần 700.000 ca tử vong do ung thư vú. Phát hiện sớm và điều trị kịp thời có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện tiên lượng cho người bệnh.