Bản “Chiến lược an ninh quốc phòng Hoa Kỳ” (31 trang, hơn 12.600 từ) mà Tổng thống George W. Bush trình Quốc hội Mỹ ngày 20-9-2002 có thể xem là tuyên bố chính thức của “học thuyết Bush” lần đầu tiên từ khi Tổng thống Bush nhậm chức. Nó không chỉ giải thích các chủ trương-chính sách Nhà Trắng mà còn cho thấy cách hành xử của Washington trong những ngày Bush ở Nhà Trắng.
Bị chi phối bởi các thành viên nội các
Colin Powell đã sớm gây xung đột trong nội các Bush
“Chiến lược an ninh quốc phòng Hoa Kỳ” không là sản phẩm thời “hậu 11-9” mà thật ra là thể hiện của chính sách diều hâu bị ảnh hưởng ít nhiều từ các thành viên nội các Bush. Có thể thấy rằng hiếm nội các Mỹ nào bị ảnh hưởng mạnh từ các thành viên chính phủ như nội các Bush. Lịch sử những gương mặt chủ chốt trong nội các Bush có thể giải thích điều này. Bắt đầu từ Phó Tổng thống Dick Cheney. Trong Quốc hội, nơi Cheney từng phục vụ 10 năm, ông luôn được xem là gương mặt diều hâu.
Lòng trung thành với đảng Cộng hòa đã giúp Cheney trở thành một trong những cố vấn chính sách đối ngoại của ứng cử viên Tổng thống George W. Bush. Với tư cách cố vấn cấp cao của Bush, Cheney có ảnh hưởng lớn trong việc chọn thành viên nội các tương lai, trong đó có những vị trí quan trọng: ghế ngoại trưởng cho Colin Powell, ghế cố vấn an ninh quốc gia cho Condoleezza Rice và ghế bộ trưởng quốc phòng cho Donald Rumsfeld.
Từ các vị trí này, nội các bắt đầu phát triển, theo khuynh hướng chọn lựa cùng thiên kiến chính trị và có quan hệ cá nhân thân thiết. Để chọn người phó mình, Rumsfeld tìm Paul Wolfowitz - hiệu trưởng Trường nghiên cứu quốc tế cấp tiến thuộc Đại học Johns Hopkins, từng giữ ghế trợ lý bộ trưởng phụ trách chính sách quốc phòng dưới quyền Cheney (khi Cheney còn là Bộ trưởng Quốc phòng thời Tổng thống Bush-cha)…
Tháng 2-1992, Wolfowitz và Zalmay Khalilzad thuộc Ban trị sự Hội đồng an ninh quốc gia-NSC (Khalilzad cũng từng có mặt trong NSC nội các Bush-con) từng tung ra đề cương nhấn mạnh sức mạnh chính trị và quân sự Mỹ trong thế giới hậu chiến tranh lạnh. Tài liệu này lọt lên trang nhất báo New York Times đầu tháng 3-1992, nói rằng sứ mạng của Mỹ là làm sao bảo đảm không có siêu cường nào ngoi lên tại bất cứ nơi nào trên thế giới. Mỹ có thể làm điều này - Wolfowitz viết - bằng cách thuyết phục các nước công nghiệp rằng Washington sẽ bảo vệ quyền lợi họ và bằng cách duy trì sức mạnh quân sự cần thiết.
Wolfowitz đề nghị Lầu Năm Góc dùng mọi biện pháp, kể cả sức mạnh quân sự nếu cần thiết, để ngăn ngừa khả năng nghiên cứu và phát triển vũ khí giết người hàng loạt tại những nước như CHDCND Triều Tiên, Iraq và vài quốc gia cộng hòa cũ thuộc Liên Xô. Wolfowitz không đề cập đến khả năng hành động thông qua Liên Hiệp Quốc… Tóm lại, người ta có thể thấy “giọng văn” Wolfowitz trong “Chiến lược an ninh quốc phòng Hoa Kỳ” mà Nhà Trắng tung ra vào ngày 20-9-2002. Trong hồi ký My American Journey (ấn hành năm 1995), Colin Powell nói rằng Cheney và Wolfowitz đã biến ban chính sách quốc phòng thời Bush-cha thành nơi “ẩn náu cho những kẻ cứng rắn thời Reagan”.
Nối tiếp phần dang dở thời Bush-cha
Trong nội các Bush-con, những gì Cheney và Wolfowitz làm chỉ là nối tiếp phần dang dở từ thời Bush-cha. Với vị trí trước kia của Wolfowitz (trợ lý bộ trưởng phụ trách chính sách quốc phòng), Rumsfeld bổ nhiệm Douglas Feith, mà thời Reagan từng là thầy của Richard Perle (người được Rumsfeld giao ghế chủ tịch ban chính sách quốc phòng). Năm 1996, Douglas Feith và đệ tử Perle viết một báo cáo tư vấn gửi tân thủ tướng đảng Likud của Israel Benyamin Netanyahu, yêu cầu ông vứt vào sọt rác tiến trình hòa bình Oslo và tái khẳng định quyền sở hữu Bờ Tây cùng Gaza. Khi Netanyahu “kháng chỉ”, Douglas Feith tung ra bài viết công khai yêu cầu Israel tái chiếm các vùng đất nằm dưới sự kiểm soát của Nhà nước Palestine (PA).
Với vị trí cũ của Richard Perle (trợ lý bộ trưởng quốc phòng phụ trách an ninh quốc tế), Rumsfeld bổ nhiệm J. D. Crouch, người từng có mặt trong Bộ Quốc phòng thời Bush-cha, từng phản đối các hiệp ước vũ khí hóa học và sau đó chỉ trích Tổng thống Bush-cha về quyết định rút các vũ khí hạt nhân chiến thuật khỏi Hàn Quốc. Năm 1995, Crouch - với tư cách thường dân - đã đề xuất nội các Bill Clinton tấn công quân sự vào các nhà máy hạt nhân và kho tên lửa CHDCND Triều Tiên…
Phần mình, Colin Powell có khuynh hướng chọn người theo chủ trương quốc tế chủ nghĩa (internationalism) cho các vị trí trọng yếu trong Bộ Ngoại giao. Tuy nhiên, ở ghế trợ lý bộ trưởng phụ trách kiểm soát vũ khí và các vấn đề quốc tế (vị trí thứ ba trong Bộ Ngoại giao), Powell đã bị Cheney ép dùng John R. Bolton - đệ tử ruột của (nguyên) thượng nghị sĩ Jesse Helms (một trong những “chiến binh ái quốc cuồng tín” còn sót thời chiến tranh lạnh). “Chẳng có cái quái gì gọi là Liên Hiệp Quốc cả” - John Bolton từng “thẳng thắn” phát biểu - “Mà chỉ có một cộng đồng quốc tế nằm dưới sự dẫn dắt của sức mạnh thật sự còn lại trên thế giới, đó là Mỹ, khi nó (cộng đồng quốc tế) phù hợp quyền lợi chúng ta và khi chúng ta có thể buộc người khác phải đi theo”.
Tư duy này cũng thể hiện trong “Chiến lược an ninh quốc phòng Hoa Kỳ” và trong nhiều bài diễn văn khác của Tổng thống Bush-con. Tại buổi nói chuyện ở Charleston thuộc bang South Carolina (do Wolfowitz tổ chức), Tổng thống Bush nói: “Với Mỹ, đây là thời điểm cho sức mạnh quân sự vô song, hứa hẹn kinh tế và ảnh hưởng văn hóa”. Qua đó, có thể thấy luận thuyết của “tập đoàn” Wolfowitz ảnh hưởng Tổng thống Bush như thế nào. Cần nhắc lại, trong diễn văn nhậm chức, Tổng thống Bush gần như không nói một chút nào về chính sách đối ngoại mà chỉ nhắc chung chung đến “những kẻ thù của tự do”. Hơn nữa, trong chiến dịch tranh cử, ứng cử viên George W. Bush cũng thú nhận mình chẳng biết ai là kẻ thù của nước Mỹ. Sự “ngây thơ” này đã biến mất không lâu sau khi ông vào Nhà Trắng….
Mạnh Kim
Bài 4: “Trả thù” bin Laden
Bài liên quan:
- Bài 2: Cuộc bầu cử đầy kịch tính