Bảo đảm công bằng khi đánh thuế đất bỏ hoang

Bộ Tài chính đã đề xuất đánh thuế đất bỏ hoang, chậm đưa vào sử dụng với mức thuế suất 0,2% giá đất, tương đương mức đang áp dụng đối với đất lấn chiếm. Đánh thuế đất bỏ hoang là cần thiết để chống đầu cơ. Tuy nhiên, chính sách cần được thiết kế công bằng, có phân loại rõ đối tượng và nguyên nhân đất chưa được sử dụng.

Nhiều năm qua, thị trường tồn tại một nghịch lý, người không khai thác đất nhưng vẫn hưởng lợi từ quá trình đô thị hóa, đầu tư hạ tầng và sự gia tăng giá trị tài sản. Không ít khu đất nằm ở những vị trí thuận lợi bỏ hoang, nguồn lực bị “đóng băng” giữa lúc nhu cầu về mặt bằng sản xuất, kinh doanh và phát triển đô thị ngày càng lớn.

Với đề xuất này, lần đầu tiên khái niệm “đất bỏ hoang” được đặt vào dự thảo luật thuế với tư cách một đối tượng chịu mức thuế cao bởi so với mức 0,03% đối với đất ở trong hạn mức, mức thuế này cao gần 7 lần.

Khi Nhà nước đầu tư đường sá, trường học, bệnh viện, hạ tầng kỹ thuật; cộng đồng dân cư hình thành, kinh tế phát triển, góp phần làm tăng giá trị đất đai. Nếu không đầu tư, không xây dựng, không sản xuất mà chỉ chờ đất tăng giá, phần giá trị được tạo ra sẽ chuyển hóa thành lợi ích riêng. Ở góc độ đó, đánh thuế đất bỏ hoang chính là cách định giá lại chi phí cho hành vi găm giữ đất.

Nhưng mức thuế 0,2% sẽ khó phát huy tác dụng khi giá đất tăng nhanh hơn nghĩa vụ thuế. Khi đó, thuế không đủ sức chống đầu cơ mà chỉ trở thành “phí chờ tăng giá”, còn đất đai tiếp tục bị găm giữ.

Mục tiêu cuối cùng của chính sách thuế là đưa đất trở lại sản xuất, kinh doanh và lưu thông trên thị trường. Vì vậy, mức thuế khởi điểm 0,2% cần được tính toán trong một cơ chế đủ sức gia tăng áp lực theo thời gian. Đất bỏ hoang càng lâu, chi phí nắm giữ càng phải lớn.

Thậm chí, cơ quan chức năng có thể nghiên cứu lộ trình áp thuế từ 0,2% lên 0,3%, 0,5% hoặc cao hơn, tùy thời gian bỏ hoang, tính chất và mức độ đầu cơ. Khi đó, tổ chức, cá nhân sở hữu quyền sử dụng đất sẽ phải cân nhắc đưa đất vào sử dụng hoặc chuyển nhượng cho người có khả năng khai thác hay tiếp tục nắm giữ và chấp nhận chi phí ngày càng tăng.

Mặt khác, không nên áp dụng cào bằng cho tất cả những người có đất nhưng chưa sử dụng bởi thực tế không phải đất bỏ hoang nào cũng chỉ để đầu cơ, trục lợi. Chẳng hạn, một người dân lớn tuổi, sức khỏe yếu, không còn khả năng canh tác hoặc một gia đình có đất nhưng con cái đang đi học, đi làm, chưa có điều kiện đầu tư, sản xuất vì những nguyên nhân khách quan, bất khả kháng vẫn chịu cùng một mức thuế cao thì chính sách sẽ khó bảo đảm công bằng.

Đặc biệt, cần phân biệt giữa “không sử dụng” do lỗi của chủ đất với “không thể sử dụng” do nguyên nhân khách quan như chờ điều chỉnh quy hoạch, tháo gỡ thủ tục hoặc giải quyết những vướng mắc thuộc trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước...

Do đó, cùng với quy định thuế, cần xây dựng một “van chính sách” đảm bảo công bằng và hài hòa quyền lợi cho mọi chủ thể khi triển khai trong thực tế. Nghĩa là phải có tiêu chí cụ thể như xác định rõ thời gian đất bỏ hoang, nguyên nhân chậm đưa đất vào sử dụng, năng lực và trách nhiệm của chủ sử dụng đất... Đồng thời có cơ chế miễn, giảm hoặc loại trừ đối với những trường hợp nằm ngoài phạm trù đầu cơ, trục lợi.

Chống đầu cơ, giải phóng nguồn lực đất đai đang bị đóng băng là cần thiết nhưng không vì điều đó làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người dân.

Tin cùng chuyên mục