Nguy cơ từ cơn đau thắt ngực

Nguy cơ từ cơn đau thắt ngực

Đau thắt ngực là một từ mà bệnh nhân và thầy thuốc hiểu khác nhau, và dùng khác nhau. Người bệnh khi nào thấy đau ở ngực, nhất là ở ngực trái, vùng trước tim, và có cảm giác ‘thắt” ở đó, thì cứ tự động chẩn đoán là “đau thắt ngực”. Nhưng các bác sĩ lại chỉ dùng từ ‘đau thắt ngực” khi khám bệnh nhân thấy có chứng cứ của bệnh động mạch vành. Nếu chỉ có lời kể “đau thắt ngực” của bệnh nhân mà không có những chứng cứ trên, thì bác sĩ chỉ dùng chữ “đau ngực” chung chung, hoặc quá lắm là “nghi đau thắt ngực”. Tuy nhiên dù theo định nghĩa nào thì những triệu chứng cũng rất nguy hiểm. .

Đau thắt ngực là gì?

Đặt stent điều trị bệnh mạch vành tại BV Nguyễn Trãi TPHCM.

Đặt stent điều trị bệnh mạch vành tại BV Nguyễn Trãi TPHCM.

Theo giới y khoa, đau thắt ngực là nêu chứng của thiếu máu cục bộ cơ tim, do một trong các động mạch vành bị hẹp, tiếp tế không đủ máu cho cơ tim, cho nên còn gọi là suy vành. Theo phân tích của các bác sĩ  chuyên khoa về tim mạch thì nguyên nhân cơn đau thắt ngực có nguồn gốc tại tim là do tình trạng xơ vữa các động mạch chính nuôi cơ tim. Nói đúng hơn là một vùng của cơ tim bị thiếu máu, chứ không phải thiếu máu toàn thân, người bệnh nhiều khi vẫn hồng hào béo tốt như hoặc hơn người thường!

Vấn đề là ở chỗ khi bị thiếu máu cục bộ (hay suy vành) như vậy, thì ít khi người bệnh thấy đau thắt. Thường bệnh nhân chỉ thấy tức ngực, nặng ngực như có gì đè lên, đôi khi hơi tức thở, có lúc lại nóng rát, nói chung người ta có cảm giác khó chịu chứ không đau hẳn. Vị trí khó chịu là ở giữa ngực ngay sau xương ức, cũng có khi ở ngực trái vùng trước tim. Cá biệt có trường hợp đau bụng vùng thượng vị, ngang trên rốn, làm người bệnh thường bị đau do loét dạ dày, viêm dạ dày...

Những trường hợp điển hình, đau xuyên lên trên, đến vai, cổ hàm hoặc lan ra cánh tay, cẳng tay, bàn tay, bên trái hoặc cả hai bên. Như vậy, những cảm giác đau nhói, đau ê ẩm, đau xuyên, và cả cảm giác đau thắt nữa, không nhất thiết phản ánh được tình trạng thiếu máu cục bộ, nghĩa là tình trạng suy vành. Nhiều khi cảm giác đau đó do ngoại tâm thu hoặc do một bệnh ở lồng ngực bên trái như xương, sụn, cơ, dây thần kinh. Có khi là một bệnh của các cơ quan gần tim như phổi, màng phổi, thực quản, dạ dày. v.v..

Những người hay bị đau thắt ngực thường là nam giới, tuổi trung niên, béo và ít hoạt động thể lực, hút thuốc lá cùng với tiền sử gia đình có người bị đau thắt ngực, huyết áp cao, mỡ máu tăng, có tiểu đường. Dĩ nhiên các yếu tố nguy cơ trên cũng ảnh hưởng đến các bệnh nhân nữ. Khi có cơn đau ngực nhất thiết bệnh nhân phải đến thầy thuốc chuyên khoa tim mạch khám. Đây là một triệu chứng cần được chú ý, chẩn đoán đầy đủ tìm ra nguyên nhân đau ngực, để có phương thức điều trị hợp lý, đúng hướng, tránh những biến chứng đáng tiếc có thể xảy ra.

Thông thường bệnh nhân sẽ được chỉ định làm điện tâm đồ lúc nghỉ. Nếu kết quả bình thường và chưa loại trừ được nguyên nhân đau ngực do thiếu máu cục bộ cơ tim thì phải tiến hành các nghiệm pháp gắng sức, test dược học làm tim đập nhanh và được theo dõi liên tục. Những nghiệm pháp này làm tăng nhu cầu oxy của cơ tim, nếu hệ thống mạch máu nuôi cơ tim không đáp ứng được nhu cầu đó thì có những biến đổi bất thường trên điện tâm đồ mà lúc nghỉ không thể phát hiện được.

Hiện nay người ta đã tiến hành chụp X-quang mạch vành để xác định vị trí tổn thương, mức độ hẹp của động mạch vành để có thể làm thủ thuật tạo hình mạch vành bằng bóng hoặc phẫu thuật cầu nối. Đây là bệnh cần được điều trị dài ngày. Nếu không có muốn dẫn đến biến chứng như tai biến, sau 3-4 tháng, bệnh nhân có thể trở lại các công việc bình thường (không cố gắng về thể lực hoặc làm việc căng thẳng).

Phòng bệnh đau thắt ngực bằng cách nào?

Nếu trước đây, đau thắt ngực chủ yếu tập trung ở châu Âu, Mỹ thì nay triệu chứng này đang xuất hiện ngày càng nhiều ở nước ta khi lối sống của người dân bắt đầu có nhiều thay đổi theo nhịp sống công nghiệp hiện đại. Theo các nhà chuyên môn, kinh tế càng phát triển, càng dễ gây ra nhiều thói quen có hại cho hệ tim mạch, vận động quá ít, dẫn đến tăng huyết áp, béo phì, tăng cholesterol trong máu... Hậu quả của lối sống như vậy là các bệnh động mạch vành, chủ yếu là vữa xơ động mạch gia tăng, dẫn đến đau thắt ngực và nặng hơn nữa là nhồi máu cơ tim.

Vì vậy, muốn phát triển kinh tế, nâng cao đời sống, mà vẫn ngăn chặn được bệnh động mạch vành, cần cải tiến cách sống của các thành viên xã hội. Đối với bệnh nhân đã có nguy cơ, phải có biện pháp đề phòng tiến tới nhồi máu cơ tim:

- Ăn kiêng, chống béo phì, ăn nhiều rau và trái cây, hạn chế mỡ động vật.

- Bỏ thuốc lá ngay.

- Điều trị tốt các bệnh cơ bản: cao huyết áp, tiểu đường.

- Có chế độ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý như: không làm việc nặng đòi hỏi sự gắng sức quá mức, tránh tình trạng quá xúc động, vui quá hay buồn quá, tập đều đặn các môn thể dục không đòi hỏi sự gắng sức như đi bộ, dưỡng sinh... Nghiêm cấm tập những môn thể thao gây nguy hiểm như leo núi, nhào lộn từ trên cao...Cách tốt nhất để hạn chế nguy cơ bệnh là phòng sớm chứng xơ vữa động mạch bằng cách khám sức khỏe thường xuyên, kiêng thuốc lá, rượu bia.

HOÀNG NGUYÊN
 

Tin cùng chuyên mục