Giữ thị phần bằng chất lượng và sự khác biệt
Chi phí sản xuất tăng, sức mua phân hóa và yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng (NTD) đang buộc doanh nghiệp thay đổi cách kinh doanh. Ông Nguyễn Hoàng Đạt, Giám đốc Công ty TNHH Vinahe, cho biết, chi phí sản xuất đã tăng ít nhất 20%, trong khi nhu cầu và khả năng chi tiêu của khách hàng ngày càng khác nhau. Để giữ đơn hàng, doanh nghiệp phải điều chỉnh quy cách đóng gói, mức giá và ưu tiên sản xuất theo nhu cầu của Co.opmart và các hệ thống phân phối khác nhằm hạn chế tồn kho, bảo đảm đầu ra.
Tuy nhiên, cạnh tranh bằng giá không phải giải pháp lâu dài. Doanh nghiệp cần nâng chất lượng, tạo sự khác biệt và gắn sản xuất với nhu cầu thị trường. Tại Saigon Co.op, việc hợp tác với hơn 100 nhà sản xuất trong nước để phát triển hơn 2.500 sản phẩm nhãn riêng cho thấy hiệu quả của liên kết giữa sản xuất và bán lẻ. Theo ông Nguyễn Ngọc Thắng, Phó Tổng Giám đốc Saigon Co.op, hệ thống dựa trên thói quen mua sắm để lựa chọn hàng hóa phù hợp, ưu tiên sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng, đồng thời đưa hàng Việt, sản phẩm OCOP (chương trình Mỗi xã một sản phẩm) và đặc sản địa phương đến gần NTD. Phản hồi từ thị trường cũng giúp nhà sản xuất điều chỉnh chất lượng, quy cách đóng gói và kế hoạch cung ứng.
Bên cạnh chất lượng và giá bán, Saigon Co.op đang thí điểm truy xuất nguồn gốc đối với một số mặt hàng thực phẩm, nông sản, giúp NTD có thêm thông tin khi lựa chọn. Với nhà sản xuất, minh bạch nguồn gốc cũng là cách tạo dựng uy tín, giữ khách hàng và nâng sức cạnh tranh.
Để chủ động nguồn cung, Saigon Co.op ký kết hợp tác với các nhà cung cấp tại nhiều địa phương, tập trung vào rau củ, trái cây và nông sản. Hệ thống còn hỗ trợ ứng vốn sản xuất, bao tiêu sản phẩm cho một số hợp tác xã, tổ chức thu mua tại vùng nguyên liệu và kiểm soát chất lượng trước khi phân phối. Cách làm này giúp nhà bán lẻ ổn định nguồn hàng, nông dân có đầu ra và doanh nghiệp giảm rủi ro tồn kho. Quan trọng hơn, sản xuất được tổ chức theo nhu cầu tiêu thụ, thay vì làm ra sản phẩm rồi mới tìm thị trường.
Liên kết chuỗi cung ứng để mở rộng xuất khẩu
Hiện rào cản kỹ thuật cho hàng hóa ngày càng khắt khe hơn khi có thêm những yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường, truy xuất nguồn gốc và tiến độ giao hàng. Doanh nghiệp muốn giữ thị phần trong nước và mở rộng thị phần quốc tế phải nâng năng lực sản xuất, thay vì chỉ dựa vào lợi thế giá rẻ.
Trên thực tế, một số doanh nghiệp đã chuyển hướng sang phát triển sản phẩm có giá trị cao hơn. Đơn cử, Công ty Faslink Việt Nam sử dụng nguyên liệu từ tre, bạc hà, cà phê và vật liệu tái chế để sản xuất các sản phẩm thời trang thân thiện với môi trường, đồng thời ứng dụng dữ liệu dự báo xu hướng tiêu dùng. Tuy nhiên, với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hạn chế về vốn, công nghệ, nguyên liệu và chi phí logistics vẫn cản trở khả năng tiếp nhận đơn hàng lớn. Sản phẩm đạt chất lượng nhưng thiếu nguồn cung ổn định, chi phí vận chuyển cao hoặc giao hàng chậm vẫn khó duy trì khách hàng quốc tế. Vì vậy, liên kết giữa vùng nguyên liệu, cơ sở chế biến, doanh nghiệp sản xuất và hệ thống phân phối trở thành yêu cầu cấp thiết.
Phát biểu tại Hội nghị ngành công thương các tỉnh, thành phố khu vực phía Nam lần thứ XII năm 2026, ông Nguyễn Lộc Hà, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TPHCM, nhấn mạnh, mỗi địa phương có thế mạnh riêng nhưng nếu phát triển riêng lẻ, thiếu kết nối sẽ khó khai thác hết nguồn lực. Thành phố có lợi thế về thị trường tiêu dùng, thương mại, phân phối, logistics và kết nối quốc tế, trong khi các địa phương khác có thế mạnh về công nghiệp, nông nghiệp, chế biến và nguyên liệu. Sự bổ trợ này tạo điều kiện hình thành chuỗi cung ứng phục vụ cả thị trường nội địa và xuất khẩu. Lợi thế thị trường chỉ được phát huy khi nguồn hàng từ các địa phương kết nối hiệu quả với cơ sở chế biến, kho vận, phân phối và xuất khẩu, qua đó giảm chi phí, kiểm soát chất lượng và bảo đảm tiến độ giao hàng.
Đồng tình, bà Phan Thị Thắng, Thứ trưởng Bộ Công thương, đề nghị các địa phương cụ thể hóa liên kết vùng bằng việc kết nối vùng nguyên liệu với cơ sở chế biến, phát triển kho lạnh, cảng và trung tâm logistics. Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, đáp ứng quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn xanh và các biện pháp phòng vệ thương mại.
Nâng sức cạnh tranh của hàng Việt không chỉ là trách nhiệm của doanh nghiệp mà cần sự vào cuộc đồng bộ: nhà sản xuất đổi mới sản phẩm, kiểm soát chất lượng; các địa phương tăng liên kết vùng nguyên liệu, chế biến và logistics; hệ thống phân phối hỗ trợ thông tin thị trường, tổ chức tiêu thụ và kết nối nhà mua hàng. Khi các khâu phối hợp hiệu quả, hàng Việt mới có điều kiện giữ vững thị phần nội địa và mở rộng xuất khẩu.