Theo TS Aumkhae Sookprasert - Đại học Khon-kaen, Thái Lan, điểm khởi đầu trong sàng lọc phát hiện ung thư (UT) vú bắt đầu bằng việc kiểm tra vú qua 2 cách: tự kiểm tra và bác sĩ kiểm tra. Cần phân loại phụ nữ vào 2 nhóm cơ bản: nhóm có nguy cơ bình thường và nhóm có nguy cơ cao. Các yếu tố làm gia tăng nguy cơ gồm 5 loại:
1. Từng được chiếu xạ ở ngực.
2. Từ 35 tuổi trở lên với nguy cơ trong 5 năm về UT vú xâm lấn > 1.7% (tính toán theo công thức Gail).
3. Có tiền sử gia đình rõ rệt về UT vú.
4. Có carcinoma thùy tại chỗ hay tăng sản bất thường.
5. Có tiền sử bản thân UT vú.
Dù được sử dụng khá nhiều, nhưng theo kết quả của một nghiên cứu quy mô ở Trung Quốc, biện pháp “tự kiểm tra vú” không có tác động gì đến hiệu quả chẩn đoán và tỷ lệ tử vong. Tuy nhiên việc “tự kiểm tra vú” có định kỳ có tác dụng làm tăng nhận thức về UT vú và vẫn được khuyến khích thực hiện.
Hiện việc tranh cãi về hiệu quả kinh tế của phương pháp sàng lọc phát hiện UT vú bằng X kết luận được tỷ lệ tử vong có giảm hay không khi áp dụng phương pháp này. Tuy nhiên phần lớn các hướng dẫn vẫn khuyến cáo áp dụng quy trình sàng lọc trên cho lứa tuổi này.
Phụ nữ thuộc nhóm có nguy cơ cao
1. Bệnh nhân có nguy cơ cao về phát triển UT vú trong 5 năm tới > 1,7% tính theo công thức Gail, tương đương với nguy cơ bình quân của 1 phụ nữ 60 tuổi.
– Nên được bác sĩ kiểm tra mỗi 6 – 12 tháng
– Nên X quang vú mỗi năm
2. Có tiền sử gia đình rõ rệt về UT vú hoặc mang yếu tố di truyền (BRCA 1 bị đột biến) với những định nghĩa dưới đây:
1. Gia đình có trên 2 trường hợp UT vú và 1 hay nhiều trường hợp UT buồng trứng ở bất kỳ độ tuổi nào.
2. Gia đình có trên 3 trường hợp UT vú được chẩn đoán phát hiện trước tuổi 50.
3. Gia đình có cặp chị em có 1 trong những kết hợp sau được chẩn đoán phát hiện trước 50 tuổi; 2 trường hợp UT vú, 2 trường hợp UT buồng trứng hay 1 trường hợp UT vú và 1 UT buồng trứng.
– Nên được bác sĩ kiểm tra mỗi 6 - 12 tháng.
– Cần thực hiện X quang hàng năm.
Cả 2 chị em này bắt đầu ở tuổi 25. Các bằng chứng cho thấy rằng có sự liên hệ giữa tính nhạy cảm của MRI so với X quang vú thông thường trong nhóm bệnh nhân này nhưng MRI trường quy sử dụng cho sàng lọc phát hiện vẫn đang được đánh giá.
Hướng dẫn này chỉ là phác thảo để hỗ trợ trong thực tế lâm sàng nên cần được thay đổi cho phù hợp với chính sách và nguồn lực của mỗi quốc gia.
D.A.ghi
Phụ nữ thuộc nhóm có nguy cơ bình thường
| Tuổi | Quy trình khuyến cáo |
| 20 – 39 tuổi | 1. Cần được bác sĩ kiểm tra mỗi 1 đến 3 năm (+/- Tự kiểm tra) |
| Từ 40 tuổi trở lên | 1. Cần được bác sĩ kiểm tra: hàng năm2. X quang vú: hàng năm |