Vụ đầu đạn hạt nhân W80-1 “mất tích”

Bài 2: Iran hay “lá chắn”?

Nhiều sĩ quan chỉ huy ở căn cứ Minot đã được bổ nhiệm hồi tháng 6-2007. Việc bổ nhiệm là chuyện bình thường, vấn đề ở đây là thời điểm bổ nhiệm đã không được báo trước.

Những quyết định ở căn cứ Minot

Ngay trước vụ 6 đầu đạn hạt nhân “mất tích” cuối tháng 8-2007, đại tá Robert D. Critchlow đã được chuyển từ Lầu Năm Góc về căn cứ Minot. Critchlow đã được bổ nhiệm làm chỉ huy “Nhóm tác chiến 91”, một đơn vị tên lửa không đối không kiêm việc hỗ trợ “Sư đoàn ném bom 91”. Đại tá Myron L. Freeman được chuyển từ Nhật Bản về Minot tháng 6-2007 và được bổ nhiệm làm chỉ huy “Nhóm các lực lượng an ninh 91”, phụ trách việc đảm bảo an toàn cho kho vũ khí hạt nhân ở Minot. Đại tá Gregory S. Tims cũng được bổ nhiệm làm phó chỉ huy Sư đoàn ném bom 91 hồi tháng 6-2007. Một số nhân vật khác cũng được thuyên chuyển từ nơi khác về là hạ sĩ Mark R. Clark, đại tá Roosevel Allen, đại tá Bruce Emig và nữ đại tá Cynthia M. Lundell.

Tổng thống Bush gặp gỡ lực lượng không quân

Ngày 15-6-2007, Tổng thống Bush đã gặp các sĩ quan cấp cao của căn cứ Minot tại căn cứ McConnell của không quân Mỹ ở Wichita, Kansas. Tướng Daniel Giacomazza thuộc “Phi đoàn hỗ trợ tác chiến 5” và thượng nghị sĩ bang Kansas Patrick Roberts cũng có mặt. Theo hãng tin AP, khi còn làm Chủ tịch Ủy ban tình báo Thượng viện (2002-2007), ông Roberts từng ngăn cản mọi ý định điều tra về hàng loạt các chủ đề như sự tham gia của tình báo trong quá trình chuẩn bị cuộc chiến chống Iraq, các vụ nghe trộm điện tử mà không có sự cho phép của tổng thống hay những cáo buộc về việc CIA sử dụng biện pháp tra tấn…

Các nguồn tin quân sự cho biết, một chiếc pháo đài bay B-52H đến Wichita để các kỹ sư của Boeing có thể thực hiện những biến đổi cho các máy bay chiến đấu trong một chương trình quân sự mới. Không có thông tin nào về các cuộc gặp riêng giữa Tổng thống Bush hay những người thân cận của tổng thống với nhân sự căn cứ Minot. Tuy nhiên, điều kỳ lạ là sau đó lại có một số phóng sự về các cuộc gặp giữa gia đình các quân sĩ với tổng thống Mỹ trên chuyên cơ Air Force One.

Trước đó, vào các ngày 14 và 15-3-2007, tướng Moseley, tổng tư lệnh không quân Mỹ đã thăm căn cứ Minot, tức là không lâu trước khi các quân nhân căn cứ Minot đến Wichita. Nếu một nhiệm vụ đặc biệt đang được chuẩn bị vào thời điểm đó, những sự kiện này hoàn toàn có thể đóng một vai trò nào đó trong tiến trình.

Vụ việc đã không thể xảy ra nếu không có sự tham gia của hơn một cá nhân trong các cấp cao nhất của cơ cấu chỉ huy không quân Mỹ và Lầu Năm Góc. Cách duy nhất để thâu tóm các cấp chỉ huy riêng biệt này là “ở trên tất cả” và có khả năng trực tiếp giám sát việc thực hiện các mệnh lệnh. Một khả năng khác là có “một hệ thống chỉ huy thay thế” nhưng cả trường hợp này cũng cần “ai đó” ở các cấp cao hơn tổ chức và giám sát.

Không quân Mỹ công khai tuyên bố đã “nhầm lẫn”. Đây là điều rất hiếm xảy ra và gần như chưa từng có đối với một tổ chức quân sự có nhiệm vụ thường xuyên bảo vệ an ninh của nước Mỹ. Việc 70 quân nhân hoặc hơn phải chịu án phạt trong vụ vũ khí hạt nhân “mất tích” không có nghĩa là các sĩ quan cấp chỉ huy cao nhất tham gia tiến hành “chiến dịch đặc biệt” này đã được xác định và bị trừng phạt.

Liệu có nằm trong một kế hoạch chiến tranh

Vấn đề là số vũ khí đó dành cho ai và liệu nó có nằm trong một kế hoạch chiến tranh hoặc một kế hoạch nào đó hay không?

Nhiều sự kiện quốc tế và các cuộc tập trận chiến tranh đã diễn ra trong bối cảnh vụ “mất tích” vũ khí hạt nhân. Đó là chưa kể những lời đe dọa tấn công Iran bằng vũ khí hạt nhân mà Tổng thống Bush liên tục đưa ra và những lời cảnh báo của Phó Tổng thống Dick Cheney về một cuộc tấn công khủng bố quy mô lớn đang được chuẩn bị nhằm vào nước Mỹ với sự hỗ trợ của Iran.

Ở Mỹ, những cuộc tập trận chiến tranh như “Lá chắn cảnh giác 2008” và tập trận chống khủng bố TOPOFF (với kịch bản là một cuộc tấn công khủng bố bằng hạt nhân trên lãnh thổ Mỹ) cũng đã được tiến hành. Vai trò của Nga và Trung Quốc cũng đã được tính đến, trong đó “kịch bản” có thể sau khi Mỹ tấn công Iran, Nga và Trung Quốc quyết định can thiệp. Trong cuộc tập trận quân sự “Lá chắn cảnh giác 2008” tổ chức năm 2006, khả năng diễn ra một cuộc chiến tranh hạt nhân với các đồng minh hạt nhân của Iran là Trung Quốc và Nga cũng đã được dự kiến trong kịch bản.

Tuy nhiên, 6 đầu đạn hạt nhân “mất tích” không phải để dành cho cuộc chiến với Iran. Điều này là hiển nhiên bởi vũ khí hạt nhân đã sẵn sàng ở châu Âu và Trung Đông, chuẩn bị cho mọi cuộc chiến có thể ở Trung Đông. Như vậy, phải có điều gì đó khác ở đây, khi vụ việc diễn ra vào thời điểm các dự án phòng thủ chống tên lửa của Mỹ ở Đông Âu và Đông Á nhằm chống lại Nga và Trung Quốc đang gây ra những mối căng thẳng trên trường quốc tế .

Nhiều quân nhân Mỹ đã chết một cách bí ẩn không lâu trước và sau vụ 6 đầu đạn hạt nhân W80-1 “mất tích” 36 tiếng ngày 29 và 30-8-2007 trong chuyến bay xuất phát từ căn cứ không quân Minot (Bắc Dakota) đến căn cứ không quân Barksdale (Louisiana). Những quân nhân này có thể có mối liên hệ theo cách này hoặc cách khác với vụ việc, hoặc thậm chí là liên quan trực tiếp. Mặc dù vậy, cho đến nay chưa có bằng chứng nào chứng tỏ những cái chết này liên quan đến chuyến bay nói trên. Tổ chức “Những công dân ủng hộ một chính phủ hợp pháp” của Mỹ thiên về khả năng không quân Mỹ đã che đậy sự thật về những cái chết này và cho rằng có mối liên hệ giữa vụ “mất tích” vũ khí với nhiều cái chết của quân nhân Mỹ.

HÀ VY (theo globalresearch.ca)

Thông tin liên quan:

Bài 1: Chỉ huy quân đội Mỹ bật đèn xanh?

Các tin, bài viết khác