Tội phạm chứng khoán

Bài 2: Những “chuyên gia nước bọt”

Lừa phỉnh, gian trá, giấu giếm…, Wall Street tiếp tục tạo ra cơn địa chấn trong làng doanh nghiệp Mỹ (gần đây nhất là xì căng đan giao dịch nội gián vào tháng 3-2007). Những sự việc liên tục gần đây không chỉ làm Wall Street mà cả Washington cũng nhức đầu. Vài trường hợp điển hình dưới đây có thể được xem là bài học cho những kẻ tập tễnh mò vào sàn giao dịch đùa với số phận mình và cũng là kinh nghiệm cho giới quản lý cấp nhà nước…

  • Ngân hàng cũng bịp!

Một góc phố Wall, nơi diễn ra các giao dịch tài chính

Khi nhấc điện thoại gọi luật sư Jacob H. Zamansky, Debases Kanjilal không nghĩ rằng mình có thể tạo ra trận bão tại Wall Street. Kanjilal nói rằng ông mất 500.000 USD đầu tư trong Công ty Infospace Inc., bởi nhà tư vấn Merrill Lynch & Co. khuyên không nên bán cổ phiếu khi nó đang giao dịch ở giá 60 USD. Cuối cùng, khi bán ra, cổ phiếu chỉ còn 11 USD.

Luật sư Zamansky giúp thân chủ Kanjilal kiện Merrill Lynch và quy kết chuyên gia phân tích thị trường chứng khoán Henry Blodget của Merrill Lynch đã móc ngoặc với Infospace trong việc cố tình tư vấn tầm bậy để cùng chia chác.

Vụ kiện khiến Tòa thượng thẩm New York điều tra và sau đó người ta công bố một tin gây sốc: Merrill Lynch cùng nhiều ngân hàng đã thao túng thị trường chứng khoán và lừa gạt các nhà đầu tư (kinh doanh cổ phiếu). Tòa New York đã buộc Merrill Lynch trả 100 triệu USD để giải quyết những cáo buộc như vụ Debases Kanjilal.

Vụ Debases Kanjilal chỉ là phát súng khai màn và công ty tư vấn nổi tiếng Merrill Lynch không phải là tay bịp có hạng duy nhất. Nhiều công ty tư vấn lớn khác cũng có dấu hiệu tình nghi, trong đó có Salomon Smith Barney và Morgan Stanley Dean Witter.

Quan hệ giữa các đối tác trong Wall Street là quan hệ khá đơn giản, trong đó có công ty (bán cổ phiếu), ngân hàng đầu tư, hãng tư vấn, hãng luật và người kinh doanh cổ phiếu.

Tại Wall Street, thông tin là quan trọng nhất. Mọi giao dịch đều tiến hành dựa vào tính chuẩn xác của thông tin. Không ai ngoài ngân hàng nắm rõ tình hình kinh doanh công ty. Các công ty tư vấn mua thông tin và bán lại cho người kinh doanh cổ phiếu.

Tóm lại, giao dịch tại Wall Street là giao dịch dựa vào thông tin và chính điểm này đã nảy sinh một quy luật tối cần thiết: sự tin cậy lẫn nhau. Tuy nhiên, cơ chế hoạt động của Wall Street đã trở thành yếu tố khiến tình trạng tiêu cực có cơ hội phát triển: ngân hàng đầu tư phục vụ cùng lúc hai khách hàng: công ty mà họ giúp bán cổ phiếu, phát hành trái phiếu hoặc thậm chí tiến hành thương vụ sáp nhập; và nhà kinh doanh cổ phiếu mà nhiệm vụ của ngân hàng đầu tư là tư vấn để người ta kinh doanh sinh lợi.

  • Và những chuyên gia bán nước bọt

Ngoài ra, một thành phần khác cũng chiếm vị trí cao trong thị trường chứng khoán là các chuyên gia phân tích. Với tính chuyên nghiệp hóa được đề cao, Wall Street bắt đầu xuất hiện giới chuyên gia phân tích. Ai cũng cần chuyên gia phân tích. Các công ty thuê chuyên gia phân tích; ngân hàng thuê chuyên gia phân tích; người kinh doanh thuê chuyên gia phân tích; và hãng kiểm toán thuê chuyên gia phân tích. Vài trong số họ là dân phân tích bậc thầy nhưng vài kẻ khác chỉ dừng lại ở trình độ buôn nước bọt và thậm chí là dân xạo chuyên nghiệp.

Loạt xì căng đan Wall Street thời gian qua đều có sự “đóng góp” ít nhiều của giới phân tích. Nạn lừa phỉnh trong giới phân tích xảy ra một phần do cơ chế hưởng hoa hồng. Chuyên gia phân tích Henry Blodget của Merrill Lynch (dính vào vụ Debases Kanjilal kể trên) đã tư vấn cho 52 thương vụ giao dịch ngân hàng từ tháng 12-1999 đến tháng 11-2001, đem lại 115 triệu USD cho công ty mình và được hưởng từ 3-12 triệu USD. Với tỷ lệ hưởng hoa hồng cao như vậy, chuyên gia phân tích dễ sẵn sàng làm mọi thứ để giúp công ty đạt doanh thu cao.

Wall Street không bao giờ thừa nhận họ trả tiền trực tiếp cho giới chuyên gia phân tích từ những thương vụ làm ăn trực tiếp. “Tiền hoa hồng của họ (chuyên gia phân tích) phụ thuộc lợi nhuận công ty” - phát ngôn viên Susan McCabe của Merrill Lynch nói - “Họ không bao giờ thực hiện bất kỳ thương vụ nào và lén lút nhận chi phiếu”. Tuy nhiên, giới chuyên gia phân tích tiếp tục là phần “không thể thiếu” trong những xì căng đan tại Wall Street.

Trong vụ WorldCom, kẻ được chú ý là Jack Grubman, chuyên gia phân tích thị trường viễn thông cho Công ty tư vấn Salomon Smith Barney (thuộc tập đoàn ngân hàng Citigroup). Grubman được trả đến 20 triệu USD/năm cho những thương vụ giữa Salomon Smith Barney và các công ty khác trong đó có WorldCom.

Một vụ khác cho thấy vai trò nguy hiểm của giới phân tích thị trường như thế nào. Trong vụ Enron, nhiều nhà phân tích tài chính liên tục đánh giá cao công ty này, cho đến sát thời điểm nó sụp đổ. Theo chuyên san tài chính Bloomberg Markets, đến trung tuần tháng 10-2001, vẫn có ít nhất 6 nhà phân tích nổi tiếng ở Wall Street tiếp tục khuyên nên mua cổ phiếu Enron. Chưa đầy hai tháng sau, ngày 2-12-2001, Enron đệ đơn phá sản! .  

Trong khi các công ty (có cổ phần niêm yết trong thị trường chứng khoán) muốn giá cao cho cổ phiếu và tỷ lệ lãi suất thấp cho trái phiếu, nhà đầu tư (kinh doanh cổ phiếu) muốn ngược lại: mua cổ phiếu giá thấp và hưởng tỷ lệ lãi suất trái phiếu cao. Đứng cửa giữa, ngân hàng “ăn” phí hai bên. Với chức năng này, ngân hàng phải đặt tiêu chuẩn trung thực lên hàng đầu.

Việc người ta bán tống bán tháo hay cắm đầu cắm cổ vơ vét cổ phiếu, theo lý thuyết, đều phụ thuộc vào tư vấn ngân hàng. Trong vài trường hợp, vai trò ngân hàng còn rộng và bao quát hơn. Từ khi luật ngân hàng thời đại khủng hoảng (thập niên 1930) được bãi bỏ, các ngân hàng khổng lồ như Citigroup hay J.P. Morgan Chase được phép làm mọi thứ, từ trực tiếp bán cổ phiếu, cho vay, đến cả quản lý quỹ lương hưu. Với vị trí và chức năng lớn như vậy, ngân hàng mà bịp thì chỉ có chết! 

Bài 3: Từ tin tặc cổ phiếu đến kỹ thuật thổi phồng

MẠNH KIM

Thông tin liên quan:

Bài 1: Mafia trong Wall Street!

Các tin, bài viết khác