Đi tour “dỡ chà”

Muốn dỡ chà, phải chọn ngày, chọn con nước, thường vào lúc nước ròng sát để dễ bắt cá, sau khi đã cho nhiều mồi xuống đám chà để dụ cá vào tối đa. Dỡ chà - nghề truyền thống đầy sáng tạo này của cư dân sông nước miền Tây đang hứa hẹn những tour đầy hứng khởi cho du khách thời hội nhập.

Đặc sản miệt sông nước

Từ khách sạn An Bình nằm ngay ngã ba Vàm Xáng của anh Tám Nghiệp - người tổ chức chuyến đi này - xuôi về hướng chợ Phong Điền chỉ 15 phút là đến điểm dỡ chà. Lúc đó đã gần 11g, đám chà hình chữ nhật 6m x 12m đã được đăng quầng (giăng lưới).

Những cây sào tre, tầm vông cao 4m - 5m được mắc lưới sát ngọn đề phòng cá vọt ra. Những giề lục bình xanh ngát bắt đầu được đẩy nhẹ ra ngoài qua “miệng chà”. Chiếc xuồng ba lá được người phụ nữ và một bé trai điều khiển cặp sát, nâng dần miệng lưới. Cá tôm thấy động lao, rúc sâu xuống đáy; mấy con mè vinh trắng phếu “lanh chanh” nhất, hoảng hốt búng mình mắc ngay vào mắt lưới, lấp lánh...  

Đặt chà và dỡ chà là một kỹ thuật khai thác thủy sản độc đáo, đầy sáng tạo từ lâu đời của người dân miệt sông nước Nam bộ. Người ta thường kiếm bên bờ lở, nước sâu nhưng vận lại, yên tĩnh, không xoáy thường xuyên (bãi đất bồi gie ra sông, đầu vàm, cặp bến, ngã ba ngã tư sông...) để dựng chà.

Trước tiên phải cắm xuống đáy sông những cây chịu nước như tre, so đũa, tầm vông... dài khoảng 5m - 7m và buộc chặt với những cây đặt nằm ngang tạo một diện tích mặt nước hình chữ nhật ven sông; mép lưới sát đáy phải có chì hoặc sợi xích sắt. Những cây có mùi hôi như thanh trà, bạch đàn… không nên dùng vì cá kỵ.

Bắt cá trong chà

Tiếp đó, chất bên trong ván khô, gốc cây, đoạn cây to dưới đáy rồi chất tiếp những nhánh chà (chà bó) bằng các loại cây nhãn (tốt nhất), me nước, gáo, xoài, tre… Khi chất xong, để dẫn dụ tôm cá, chủ đống chà thường thả mồi (rải tấm, cám rang, đầu cá nấu, xác mắm...) rồi thả lục bình tạo bóng mát cho các loại thủy sản trú ngụ.

Nước rút dần. Cọc, lưới bao quanh được 6-7 “thợ chà” da ngăm đen nhổ dần vào trong, bắt đầu “gạn lưới”(thu hẹp lưới), dỡ chà bó. Đây là thời điểm “kịch tính” nhất của buổi dỡ chà. Trên bờ, người trong xóm nhích dần xuống mé sông, trẻ nít khoái chí  la hét, chỉ chỏ vang cả khúc sông.

Từng đám chà bó được nâng lên mặt nước, phía dưới có một tấm lưới mắt nhỏ xíu, hình chữ nhật để hứng, giũ, gỡ những chú cá giấu mình trong đó. “Kéo sát vô! Kéo sát vô!”, anh Tư la lớn cho hai người đối diện rồi lấy hơi lặn sâu. Chỉ vài phút sau, khi ngoi lên, một con cá ngác cả ký đã nằm gọn trên tay anh.

“Thợ chà” như anh, cá chỉ lạng qua chân là biết ngay loại gì, mấy ký. Những chiếc thau nhựa xanh đựng cá rô biển, rô phi, lau kiếng, trà vinh, he vàng, bống cát, cá lóc… được chuyền lên xuồng. Cá lớn rất mạnh, không bao giờ nổi ngay mà sau nửa giờ người ta phải lặn xuống tận đáy để chụp, chà lại. 

Kỳ thú sông nước

Giữa trưa mà gió sông Hậu thổi lồng lộng. Gió chướng về là mùa chà khởi đầu và kết thúc khi mùa sa mưa đến (nhộn nhịp nhất là khoảng tháng 11 và tháng chạp).

“Ngày trước ở vùng Búp Văn – Hà Tiên, gia đình tôi chỉ gỡ hai miệng mà ghe lườn đã khẳm, khoảng 150kg cá tôm. Cá lớn mới ăn, cá vừa vừa chỉ làm mắm. Ruột cá chiên lấy mỡ đốt đèn dầu. Cá nhiều đến nỗi những ghe khác đỗ gần, cá nhảy lên cũng đủ ăn!”, anh Tám Nghiệp cũng là dân sông nước rặt, kể.

Ông bạn Sóc Trăng lại kể một nhà hàng trên Tân Châu chỉ khoét một mương nhỏ dẫn vô nơi rửa chén, lâu lâu dỡ lên, cá vô đến cả thùng. “Chà bò” hay chà lu, chà hũ là cách “làm chơi ăn thiệt”: bỏ vài cây khô vào khạp, lon, dúi xuống nước, khi kẹt đồ mồi vớt lên cũng nhậu tới bến!

“Dân chất chà” có mặt dọc hai bờ sông Tiền, sông Hậu và ngày càng quy củ hơn để bảo đảm thông thoáng đường thủy. Nhà khá thì đóng 2-3 đống chà to, còn ít vốn, ít nhân công thì đóng chà vừa và nhỏ. Dỡ chà mang tính cộng đồng, gắn kết làng xóm rất cao. Ai phụ được chủ nhà đãi đằng túy lúy, khi về ngất ngưởng liêu xiêu tay còn xách mớ cá tôm tươi rói trình vợ con. Ngoài nguồn lợi kinh tế, việc dậm chà còn giữ bờ khỏi lở.

Chuyện quanh con cá đồng bằng thật ngộ. Làm chà sợ nhất là dân xiệc (điện) rồi dầu máy, hóa chất, nước thải công nghiệp (hoặc “cha” nào chơi ác, thảy một chai dầu Nhị Thiên Đường là đi đứt)…

Dính ngạch cá trê, cá ngác “thấu tận óc o”, muốn bớt đau phải xài cháo nếp, gừng giã, đường chảy, lá ớt hiểm… Cá lau kiếng phá và ăn tạp số dách. Chúng đào hang vô bờ búa xua, còn như thả vào hầm cá tra thì sau một thời gian “anh kia 1kg, chị này cũng nửa cân”. Thịt lạt, không ngon nhưng dân nhậu cặp triền sông gần đây đưa ra “menu” mới: cá lau kiếng hầm sả, lai rai ba xị cũng bắt mồi, hay đáo để. Số ít dân chợ thì “điêu ngoa” trộn với cá thác lác làm chả, đố ai biết.

Chỉ vào những chú cá mè rổ sọc đen nằm im trong thau nhưng mắt vẫn láo liên, Huy - dân du lịch - cho biết đây chính là những sát thủ săn mồi độc đáo miệt sông nước: con mồi cách xa 3m, chúng chỉ cần… phụt nước miếng là rớt liền rồi lướt tới há miệng gọn ơ!

Cá bống tượng thân ngắn, đầu bụng to tròn, sọc đen, vẩy nâu; kỳ, đuôi, vây, mang đều có gai mềm giương lên, đặc biệt lá gan rất to nấu lên có vị thơm lạ. Thường mỗi đống chà chỉ có… một cặp (!).

Cá rô biển gọi vậy nhưng sống ở sông, màu xanh chàm hơi lợt, kỳ và vi dài nhọn hơn. Loại này muối sả đem chiên hoặc nướng dầm nước mắm tỏi ớt, trời se se ăn chết bỏ.

Cá chốt to nấu canh chua cơm mẻ với bông so đũa hay đem kho sả ớt. Cá trê trắng (bụng màu trắng) thường sống ở sông khác với loại cá trê bụng màu vàng sống ở ruộng.

Cá trê trắng nấu canh chua bạc hà, cá trê vàng thường kho tiêu với tóp mỡ, hoặc kẹp tre nướng trên lửa than chấm nước mắm gừng. Tôm càng thì ngon khỏi nói. Lẹ thì luộc chấm muối tiêu chanh, khoái hăng hăng thì chơi mù tạt; nướng mùi “dậy” hơn. Món tôm kho tàu phải bóc hết vỏ, chừa một tí đuôi cho đẹp,  kho lên cong tròn và gạch tôm thì sánh lại rực rỡ màu son…

Sống lại hồn sông

Bữa tiệc từ chiến lợi phẩm được chủ nhà đãi ngay trong căn nhà rộng sát mé sông. Tôm càng nướng chấm muối tiêu chanh, đỏ sậm chềnh ềnh trên đĩa sứ men trắng, chạch bông nướng muối ớt, sườn heo nướng mù tạc, hến xào mè xúc bánh đa, cơm cháy kho quẹt. Từng khúc cá ngác, trê trắng thịt chắc, được vớt lên từ nồi lẩu chua, đủ sắc màu của bông lục bình, so đũa, cải, cần…

Tráng miệng mới “độc”, làm ngỡ ngàng thực khách: bánh cúng, bánh đúc, xôi vị, bánh bò, cơm rượu Ba Láng. Giữa khói bụi và ồn ã của đô thị thời mở cửa, được hưởng gió mát trăng thanh, ngắm nhìn ghe thuyền lênh đênh yên ả, nhâm nhi đặc sản cá đồng chính hiệu (của hiếm nơi thị thành)… Cõi tiên dưới trần đâu xa?

Anh bạn đi cùng, người châu thổ chính gốc cũng thích thú: “Lần đầu tiên mới biết dỡ chà ra sao”. Khách nước ngoài càng khoái, Giám đốc Trung tâm ĐHHD du lịch Cần Thơ Lâm Văn Sơn nói vậy.

Nhưng thật lạ, cả vùng sông nước mênh mang, tuor loại này lại hầu như chưa nơi nào định hình! Hiện anh Tám Nghiệp liên kết với các hãng du lịch cùng các chủ ghe, chủ chà (hỗ trợ 100% công dỡ chà, cá tôm mua lại theo giá thị trường) mở tuor dỡ chà, kéo đáy, thả lưới, cào lưới dọc khúc sông này.

Chợt giật mình. Gần 4 tiếng dầm mình dỡ chà, mặt mũi chân tay nhợt nhạt, chưa kể công dựng chà, chăm bẵm hàng tháng trời nhưng thành quả chỉ trên dưới 20kg cá tôm! Sông mẹ Mekong cạn kiệt rồi chăng? Nghề truyền thống trên sông nước sẽ mai một dần?

Giữ lại hồn sông. Đó là tài sản, là nét văn hóa đậm chất Nam bộ giữa cái thời quay cuồng đầy tốc độ, công nghiệp hiện nay.

Vũ Thống Nhất

Các tin, bài viết khác