Ung thư vú

Điều trị hiệu quả bằng phương pháp phẫu thuật bảo tồn

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ước tính năm 2005 có khoảng 1,2 triệu người bị ung thư vú-  phần lớn là phụ nữ. Tại Việt Nam, nghiên cứu về ung thư trong những năm gần đây cho thấy ung thư vú ở phụ nữ là loại ung thư có tần suất cao nhất ở Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Tại TPHCM và các tỉnh phía Nam, ung thư vú đứng hàng thứ hai (sau ung thư cổ tử cung). Số ca mới mắc ung thư vú hàng năm khoảng 800/2 triệu tại Hà Nội và khoảng 600/3 triệu tại TPHCM. Phần lớn các bệnh nhân có độ tuổi trên 40.

  • Cảnh giác khi thấy một vết lõm hoặc một nếp nhăn kéo lõm bề mặt của tuyến vú

Máy xạ trị gia tốc - một thiết bị hiện đại được BV Chợ Rẫy đầu tư trang bị phục vụ cho việc điều trị ung thư. Ảnh: Mai Hải

Các nguyên nhân gây ung thư vú chưa được biết nhưng người ta đã có thể xác định một vài tác nhân nguy cơ: tuổi, tiền căn thai sản, tiền căn phơi nhiễm bức xạ vùng ngực, những bệnh lý tuyến vú lành tính; chế độ ăn uống và bệnh béo phì; các nguy cơ có tính chất gia đình. Về triệu chứng, bạn phải cẩn thận khi phát hiện một vết lõm hoặc một nếp nhăn kéo lõm bề mặt của tuyến vú hay  một tổn thương dạng “da cam” của tuyến vú.

Bên cạnh đó, còn cần chú ý đến các triệu chứng biến dạng của núm vú làm nó thụt vào trong, một tổn thương dạng chàm của núm vú, núm vú trở nên đỏ, đóng vẩy hoặc loét khuyết, tiết dịch núm vú, nhất là khi nó có lẫn máu hoặc có màu hơi đen. Khi nhận thấy bất cứ một dấu hiệu nào trên đây thì bắt buộc phải đi khám bệnh ngay không được chậm trễ.

  • Phương pháp phẫu thuật bảo tồn tuyến vú

Nguy cơ ung thư vú ở nữ giới luôn là nỗi ám ảnh bao lâu nay. Do không nắm vững thông tin, phần lớn bệnh nhân đến bệnh viện khi bệnh đã ở giai đoạn 3 và 4 (giai đoạn muộn). Vì thế, đa phần các trường hợp mắc bệnh ung thư vú đều phải điều trị bằng phương pháp đoạn  nhũ (cắt bỏ toàn bộ tuyến vú). Điều này ảnh hưởng rất lớn đến tâm sinh lý của bệnh nhân. Ung thư vú hoàn toàn có thể chữa khỏi nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm. Giai đoạn càng sớm thì khả năng chữa khỏi càng cao, đặc biệt là vẫn có thể bảo tồn tuyến vú. Theo các thống kê của các nước Âu - Mỹ, khoảng 90% bệnh nhân ở giai đoạn 0 và giai đoạn I có thể chữa khỏi hoàn toàn.

Hiện tại việc điều trị nhằm mục đích bảo tồn tuyến vú cho bệnh nhân nên các nhà chuyên môn cũng tăng cường đẩy mạnh điều trị tân hỗ trợ. Trên thế giới phương pháp bảo tồn tuyến vú đã được đưa vào nghiên cứu từ những năm 70 và chính thức đưa vào điều trị từ những năm 90. Phẫu thuật bảo tồn giúp giữ được nét thẩm mỹ cho tuyến vú, thời gian phục hồi sau phẫu thuật nhanh và bệnh nhân không cần thiết phải phẫu thuật tái tạo tuyến vú về sau. Tỷ lệ khỏi bệnh, thời gian sống, tỉ lệ tái phát và di căn của phẫu thuật bảo tồn so với đoạn nhũ hiện nay được xem là như nhau mà giá thành điều trị chỉ tương đương hoặc thấp hơn.

Phương pháp điều trị bảo tồn được áp dụng khi bệnh được phát hiện ở giai đoạn sớm, khi bướu nhỏ hơn 3cm và không có di căn xa, không xâm lấn. Phương pháp hiện tại Bệnh viện FV đang điều trị là cắt bỏ khối bướu, nạo hạch nách cùng bên và xạ trị vào tuyến vú + hạch vùng. Đối với các trường hợp bướu lớn hơn 3cm, nếu bệnh nhân có nguyện vọng giữ lại tuyến vú, vẫn có thể điều trị bảo tồn nhưng điều này tùy thuộc vào thực trạng bệnh lý của từng bệnh nhân.
 
Việc giữ lại bộ ngực theo phương pháp điều trị bảo tồn hiện nay giúp cho người phụ nữ dễ dàng chấp nhận việc điều trị, không còn lo lắng và bị ám ảnh bởi việc bị cắt bỏ toàn bộ tuyến vú theo phương thức điều trị cổ điển trước đây. Tất cả các phụ nữ trên 40 tuổi nên tự khám vú đúng phương pháp, và nên khám sức khoẻ định kỳ mỗi năm một lần, trong đó phải có khám tuyến vú. Khi cần thiết, bác sĩ sẽ đề nghị chụp nhũ ảnh để phát hiện các tổn thương nghi ngờ. Sau khi khám, nếu như tuyến vú được xác định bình thường, nhũ ảnh được khuyến cáo nên chụp định kỳ mỗi 2 năm.

BS Võ KIM  ĐIỀN
(Trưởng khoa Ung thư Bệnh viện FV)

Các tin, bài viết khác