Thạc sĩ - Luật sư Đậu Thị Quyên, Đoàn Luật sư TPHCM, cho biết theo Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành, Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính. Vì không có quan hệ vợ chồng nên sẽ không áp dụng chế định suy đoán con chung tại Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình. Thêm vào đó, Điều 136 Bộ luật Dân sự 2015 quy định chỉ có cha, mẹ mới là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên.
“Như vậy, trong mối quan hệ đồng giới, chỉ có một trong hai người đạt được quyền đại diện. Người còn lại không được ký bất kỳ giấy tờ gì cho trẻ như: nhập học, làm hộ chiếu, mở tài khoản, hay nhận trẻ khi có sự cố… và cũng không thể xin làm người giám hộ khi người kia còn sống theo Điều 47 Bộ luật Dân sự 2015”, Luật sư Đậu Thị Quyên phân tích.
Ngoài những rào cản về mặt y tế, giáo dục, thừa kế, cấp dưỡng, khoảng trống pháp lý còn nằm ở quy định về hỗ trợ sinh sản. Điều 93 Luật Hôn nhân và Gia đình hiện nay chỉ cho phép hỗ trợ sinh sản với cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân. Nam giới độc thân không thuộc diện này. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo chỉ dành cho cặp vợ chồng dị tính. Điều này vô hình trung khép lại cơ hội làm cha hợp pháp trong nước của các cặp đồng tính nam, buộc họ phải ra nước ngoài nhận con - một con đường vừa tốn kém, vừa tiềm ẩn muôn vàn hệ lụy cho đứa trẻ.
Những hệ lụy ấy không nằm ở lý thuyết mà đã trở thành vết thương có thật. Luật sư Đậu Thị Quyên chia sẻ câu chuyện đau lòng của một cặp đồng giới: “Họ có con nhưng khi người được đứng tên hợp pháp trên khai sinh qua đời, quyền giám hộ được chuyển cho ông bà hoặc anh chị em ruột của người đó theo đúng quy định pháp luật, chứ không phải người bạn đời đã trực tiếp nuôi dưỡng trẻ suốt 10 năm qua. Vì gia đình của người mất không chấp nhận mối quan hệ đồng giới này nên tách đứa trẻ ra khỏi người cha/mẹ thứ hai. Việc này không chỉ gây ra tổn thương cho người ở lại mà còn ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển của trẻ”.
Ông Huỳnh Minh Thảo, nhà hoạt động xã hội về bình đẳng giới, cho biết, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA) từng khẳng định: Trẻ em trong gia đình LGBT phát triển khỏe mạnh và hạnh phúc hoàn toàn tương đương trẻ em ở gia đình dị tính. Khó khăn của các em đến từ rào cản pháp lý. Ông Thảo lý giải: “Một đứa trẻ cần cảm giác an toàn tuyệt đối từ người nuôi dưỡng. Nhưng khi pháp luật chỉ công nhận một người cha/mẹ, đứa trẻ và người cùng nuôi dưỡng còn lại luôn bị đặt trong một trạng thái nhiều rủi ro. Bên cạnh đó là áp lực của căng thẳng thiểu số. Khi đi học, các em sẽ phải liên tục đối mặt với những câu hỏi của bạn bè, thầy cô. Điều này dễ nảy sinh tâm lý mặc cảm, khiến các em nghĩ gia đình mình không trọn vẹn, ảnh hưởng trực tiếp đến lòng tự tôn của trẻ”.
Theo ông Thảo, từ năm 2022, Bộ Y tế đã khẳng định “đồng tính không phải là bệnh” và điều đó đồng nghĩa với việc người đồng tính hoàn toàn có đầy đủ năng lực thể chất và tinh thần để làm cha mẹ. Do đó, việc công nhận kết hôn cùng giới và ghi nhận cả hai người trên giấy khai sinh chính là lá chắn quan trọng để bảo vệ cho sự phát triển của trẻ.
Luật sư Đậu Thị Quyên chia sẻ, trong khi chờ đợi việc sửa Luật Hôn nhân và Gia đình để công nhận hôn nhân đồng giới, Việt Nam có thể sửa đổi Luật Nuôi con nuôi theo hướng: cho phép người đang chung sống ổn định với cha/mẹ ruột của trẻ được nhận trẻ làm con nuôi mà không chấm dứt quan hệ với cha/mẹ ruột. “Theo tôi, hướng đi này khả thi và có thể giải quyết được khoảng 80% vấn đề vì đã có nền móng pháp lý tại Điều 24 Luật Nuôi con nuôi, cho phép cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi thỏa thuận giữ nguyên quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đẻ”, Luật sư Đậu Thị Quyên nêu quan điểm.
Theo báo cáo do Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) phối hợp Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) thực hiện, Việt Nam hiện có khoảng 1,65 triệu đến gần 3 triệu người thuộc cộng đồng LGBT. Khảo sát thực tế chỉ ra rằng, hơn 60% trong số đó khao khát được kết hôn và sinh con, trong đó khoảng 5% các cặp cùng giới sống chung đang trực tiếp nuôi con.