O lái đò trên sông Thạch Hãn

Từ bức ảnh “Cha con ông lão ngư dân Triệu Phong ngày đêm chở bộ đội và vũ khí tiếp sức cho Thành Cổ” của phóng viên chiến trường Đoàn Công Tính được treo trang trọng ngay tại phòng khánh tiết Bảo tàng Thành Cổ Quảng Trị, tôi đã đi nhiều nơi, hỏi nhiều người về số phận của hai cha con ông lão trong ảnh. Nào ngờ, 35 năm sau cuộc chiến đấu 81 ngày đêm mùa hè đỏ lửa năm 1972, o lái đò vẫn sống bên bến sông xưa.

O lái đò...

Cha con ông lão ngư dân Triệu Phong ngày đêm chở bộ đội và vũ khí tiếp sức cho Thành Cổ Ảnh: ĐOÀN CÔNG TÍNH

Du khách đến Bảo tàng Thành Cổ thường dừng lâu trước bức ảnh hai cha con ông lão chèo đò - cô con gái đội mũ tai bèo ngồi ôm khẩu súng với nỗi lo thoáng hiện trên gương mặt, còn ông cụ ở trần, tay ghì chặt bánh lái con thuyền và cười rạng rỡ.

O Thu trầm ngâm kể như nói với chính mình: “Nhiều trưa nắng chói chang, bộ đội “quở” da ông cháy đen như rứa đạn ngụy không thèm nhìn. Ông cười “ở trần  như ri cho sướng”. Nói thiệt, có áo mô mà mang!”.
 
Hồi đó o Thu 21 tuổi, ông cụ mặc chiếc áo vá đến nhà dạm hỏi o cho con trai ông chỉ trước ngày bộ đội đánh Thành Cổ mấy hôm... Làng Giang Hến, xã Triệu Long (nay thuộc Tiểu khu 5, thị trấn ái Tử, huyện Triệu Phong) của o trong những năm 1968 đã bị Mỹ và quân đội Sài Gòn lùa toàn bộ cư dân đi nơi khác để xây dựng sân bay Ái Tử.

Cũng như ông cụ, gia đình o phải lánh nạn qua làng Tiền của xã Triệu Giang, cách làng cũ vài cây số. Từ 28-6-1972, ngày mở màn cuộc chiến đấu 81 ngày đêm Thành Cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn, đoạn từ xã Triệu Long, Triệu Giang, Triệu Thành trở thành huyết mạch quan trọng của quân giải phóng. Giữa lúc bom đạn kẻ thù đánh phá ác liệt, bà con dân làng phải đi sơ tán, việc tiếp tế cho chiến trường Thành Cổ hết sức khó khăn, ông Nguyễn Con cùng cô con dâu tương lai của mình đã tình nguyện đi làm liên lạc, chèo đò chở bộ đội và vũ khí, lương thực vào Thành Cổ.

O Thu tâm sự: “Hình như hồi đó chỉ có mình tui là con gái lái đò. Ông thường cho tui chở bộ đội bị thương đi ra, còn những chuyến vô ông dặn tui ngồi bên cạnh và tự ông cầm lái. Mỗi chuyến đò vô Thành Cổ khoảng chừng ba chục phút. Hễ cần đò là hai cha con đi”.

Gần 3 tháng mùa hè năm 1972, o Thu du kích bến đò làng Tiền cùng cha ngày đêm xuôi ngược trên sông Thạch Hãn oi nồng. O vẫn nhớ như in những quầng sáng đỏ ối trên nền trời Thành Cổ, quầng sáng loang loáng xé toạc mặt sông đêm và bàn tay còn ấm nóng của người chiến sĩ vừa trút hơi thở cuối cùng khi con thuyền đang quay mũi về phía làng Tiền.
 
Và o bán hến

Hôm đầu tiên về tìm o Thu ở làng Giang Hến, tôi nhận ra o giữa mấy người đang còng lưng đãi hến trên gò sa bồi chờm ra quá mớp sông. Chiếc thuyền nhỏ chòng chành cắm hờ một cây sào gỗ, lòng thuyền chất đầy những cái rổ không. Nghề cào hến ven sông cũng nương nhờ vào con nước. Rủi gặp ngày trở trời, nước động, con hến chìm sâu xuống đáy bùn, người cào hến trầm mình cả buổi cũng chỉ nhận được của sông non một rổ hến tươi.

Hai năm sau đận đưa đò chở bộ đội vô Thành Cổ, o Thu lập gia đình với con trai của ông lão… ở trần mà từ lâu o đã gọi là cha. Ngày đất nước thống nhất, cha con o dắt díu nhau trở về làng Giang Hến cũng bằng con đường ngược dòng Thạch Hãn.
 
Ngôi nhà ngói xi măng của vợ chồng o bây giờ vẫn nằm trên nền đất cũ nhà ông lão lái đò, mặt hướng ra phía gò đãi hến. Hơn một nửa trong số 78 hộ gia đình ở Giang Hến đã chuyển đổi kế mưu sinh, o Thu vẫn biết phận người cào hến bán hến nhọc nhằn.

Có điều, cứ mỗi sáng nhìn xuống bến sông đang vắng tanh người, o lại nhớ  về những chuyến đò chở quân năm nào. O lại nhớ lời dặn của bố chồng: “Đừng bỏ nghề cào hến quanh trũng cát bồi, nơi cả đời ông và con thuyền đã làm bến đỗ; vả rồi biết đâu có thể tìm thấy được một vài liệt sĩ…”.

                                                                                                                  Lê Minh Thắng

Các tin, bài viết khác