Có nhiều nghiên cứu đưa ra các số liệu khác nhau về tỷ lệ thất thoát lúa sau thu hoạch. Người cho là vào khoảng 13%-17%, người bảo ở mức 17%-20%..., song tất cả đều khẳng định tổn thất của chúng ta hiện nay thuộc loại cao nhất thế giới. Nói một cách đơn giản, so với các nước mạnh về nông nghiệp khác, sau thu hoạch, chúng ta “làm rụng” lúa nhiều hơn từ 5% - 8% hoặc cao hơn, trong đó, tính sơ sơ cứ 1% thất thoát là mất đứt… 7 triệu USD!
-
Khâu nào cũng thất thoát
“Theo chúng tôi, tỷ lệ thất thoát lúa tại ĐBSCL hiện nay vào khoảng 14%. Đây là kết quả nghiên cứu dựa trên phỏng vấn được chúng tôi thực hiện với những người dân tại ĐBSCL, theo một đề tài nghiên cứu do Thụy Điển tài trợ” – Th.S Nguyễn Văn Xuân, Giám đốc Trung tâm Năng lượng và máy nông nghiệp, ĐH Nông Lâm TPHCM nói.
Cũng cần phải nói thêm, Trung tâm Năng lượng và máy nông nghiệp, thuộc ĐH Nông Lâm TPHCM là đầu mối tham gia vào rất nhiều dự án, chương trình nghiên cứu về thất thoát sau thu hoạch, khảo sát thực trạng sau thu hoạch và cũng là nơi phổ biến nhiều loại máy nông nghiệp cho người dân, nhằm giảm những thất thoát đó.
Tuy nhiên, việc đưa máy móc vào dân là không dễ, cho dù ngay cả với những loại máy đã được chứng minh rõ ràng rằng áp dụng thì có lợi. “Chương trình đưa máy sấy vào ĐBSCL đã được chúng tôi thực hiện từ hơn 10 năm trước. Các nhà khoa học cũng đã chứng minh được rằng sấy lợi hơn phơi. Chi phí để sấy lúa cũng có thể chấp nhận được với người dân. Thế nhưng sau 10 năm triển khai, điều tra của DANIDA (Tổ chức Hỗ trợ và phát triển quốc tế Đan Mạch) cho thấy số lượng máy sấy tại ĐBSCL hiện nay chỉ đáp ứng khoảng 30% nhu cầu”, Th.S Xuân cho biết.
Cung cấp một cái nhìn tổng thể hơn về thất thoát sau thu hoạch, cần phải xem lại nghiên cứu tỉ mỉ được công bố vào cuối năm 2004, công trình do Bộ NN-PTNT phối hợp với DANIDA thực hiện. Theo công trình nghiên cứu “Hiện trạng và đánh giá nhu cầu xử lý sau thu hoạch” này, những công đoạn chính gây thất thoát sau thu hoạch trên lúa bao gồm các khâu thu hoạch, gom, tuốt lúa, phương pháp phơi, tồn trữ và xay xát. Thất thoát sau thu hoạch trên lúa tùy thuộc vào mùa vụ, thời tiết, vùng sinh thái nông nghiệp và phương pháp xử lý sau thu hoạch.
Tuy vậy, theo nhiều nhà nghiên cứu, bên cạnh những thất thoát có thể dễ dàng thống kê qua số lượng lúa bị hư hao, rơi vãi, thì có những thiệt hại lớn khác ít được đưa vào bài toán thất thoát sau thu hoạch. Đó là những thiệt hại do việc xử lý sau thu hoạch không hợp lý, khiến tỷ lệ gạo nguyên thu hồi thấp, hay gạo bán không được giá.
-
Những hạt gạo không nguyên
Nói về việc những thất thoát không dễ dàng đưa ra con số, Th.S Xuân cho rằng, cần trở lại với việc làm khô lúa: “Trong lúc thế giới chứng minh được rằng độ ẩm 14% là tốt nhất đối với việc xay xát để có tỷ lệ gạo nguyên cao nhất thì ở Việt Nam, chủ yếu gạo vẫn được xay với ẩm độ 16%-17%. Vì thế, tại Việt Nam hiện nay chúng ta có quy trình ngược: lúa sau khi được xay xát, thì gạo lại được lấy làm nguyên liệu để sấy lại, tách sạn, lau bóng, phân loại gạo nguyên và tấm… Khi lấy gạo là nguyên liệu để chế biến lại lần 2, chất lượng gạo cùng loại của chúng ta không thể ngon bằng gạo Thái Lan được”.
Một cách cụ thể hơn, những nghiên cứu của TS Phan Hiếu Hiền, nguyên Giám đốc Trung tâm Năng lượng và máy nông nghiệp, ĐH Nông Lâm TPHCM, cho thấy những con số định tính về các thất thoát sau thu hoạch xảy ra không phải do lúa bị rơi vãi, mà đơn thuần là do tỷ lệ gạo thu được quá thấp trong các công đoạn xử lý sau thu hoạch. Theo TS Hiền, một khảo sát tại Long An và Cần Thơ cho thấy nông dân bị giảm lợi tức từ 5%-7% do gạo xay ra nhiều tấm vì phơi sấy không đúng cách. Hao hụt này lên đến 7% trong vụ đông-xuân do tập quán phơi mớ ngoài đồng, và mức độ hao hụt là khoảng 20 triệu USD cho mỗi vụ thu hoạch ở ĐBSCL.
Tuy nhiên, thất thoát lớn hơn nữa được TS Hiền chỉ ra là trong “quy trình ngược” khi chúng ta lấy gạo làm nguyên liệu để xử lý trước khi xuất khẩu. “Một quy trình xay xát chuẩn có thể từ 100kg lúa thu được 68% gạo nguyên và tấm, trong đó có 52%-54% gạo nguyên. Thực tế hiện nay của chúng ta các nhà máy xay xát nhỏ chỉ đạt 60%-66% tổng thu hồi, gạo nguyên chỉ đạt 40%-48%. Dùng gạo này làm nguyên liệu tái chế càng làm vỡ gạo hơn nữa. Cuối cùng 100kg lúa chỉ cho được chừng 40kg gạo xuất khẩu, trong khi ở quy trình chuẩn là 52kg”, TS Hiền cho biết.
Có thể nói, thất thoát sau thu hoạch của hạt lúa Việt Nam không chỉ xảy ra trong quá trình thu hoạch, vận chuyển lưu trữ, mà còn ở các công đoạn đưa hạt lúa trở thành hạt gạo, trở thành đồng ngoại tệ cho xứng công “gạo giã bao đau đớn”. So với các nước bạn, tổng thất thoát mà người dân chúng ta phải gánh chịu cho cả 3 quá trình lớn này, rõ ràng không chỉ là 14% của hạt lúa, hay chỉ là 12% của công đoạn xay xát như trong tính toán của TS Hiền, mà còn là hàng chục USD cho mỗi tấn gạo bị bán giá thấp hơn gạo cùng loại của Thái Lan. Tổng cộng cả 3 loại thiệt hại đó, một năm chúng ta mất đi bao nhiêu ngàn tỷ đồng?
Với 1% thất thoát được “định giá” 7 triệu USD, 14% thất thoát của chúng ta “trị giá” gần 100 triệu USD. Một con số tương tự có thể tính trong bài toán của TS Hiền, với 12% thất thoát tương đương với 84 triệu USD. Ngoài ra, giá gạo Việt Nam hiện rất rẻ so với gạo Thái Lan. Trong khi gạo 5% tấm của Thái chào bán giá 700 USD/tấn thì gạo cùng loại của Việt Nam giá chỉ 540 – 550 USD/tấn, giá FOB. Theo GS-TS Võ Tòng Xuân, nếu lúa đầu vào được làm khô và tồn trữ đúng cách, giá trị tăng thêm của gạo xuất khẩu có thể tăng thêm 30USD/tấn. Tính ra, tổng mức tăng có thể lên tới 200 triệu USD.
Tất nhiên các con số này chỉ là tương đối, nhưng với tổng thiệt hại cả do thất thoát, do gạo gãy vỡ và giá gạo rẻ có thể lên tới con số 400 triệu USD/năm (khoảng 6.800 tỷ) hoặc cao hơn
MINH TÚ – MINH LONG – TIÊU HÀ