Có một món quà quê khá phổ biến, đó là bánh tẻ (ảnh). Hiếm có ai sinh ra, lớn lên từ các làng quê thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ lại không biết đến món quà thân thuộc này. Bánh tẻ xét ra từ cái tên, nguyên liệu, cách làm, cho đến cách thưởng thức đều đặc sệt cái hồn quê dân dã. Nhiều nơi gọi là bánh tẻ chỉ bởi vì nó được làm từ gạo tẻ, loại gạo nuôi sống người ta, vẫn ăn từ ngày này qua ngày khác, đời này sang đời khác. Có nơi lại gọi là bánh răng bừa vì chiếc bánh có hình dáng nhỏ dài, hơi gù và đều tăm tắp như những chiếc răng bừa.
Bánh tẻ ở đâu cũng có nhưng ngon nổi tiếng là bánh tẻ của làng Chờ (Bắc Ninh), bánh tẻ Phú Nhi (Sơn Tây), Mỹ Đức (Hà Tây), bánh tẻ Văn Giang (Hưng Yên). Tuy có khác nhau đôi chút nhưng về cách làm căn bản vẫn giống nhau. Đầu tiên người ta chọn gạo tẻ loại ngon ngâm qua một đêm sau đó xay thành bột nước. Bột nước này được nêm chút muối rồi quấy thành một thứ bột nửa sống nửa chín và đặc lại thì bắc ra. Khâu quấy bột này rất quan trọng, lửa phải vừa, tay phải quấy đều bột mới dẻo và không bị vón cục.
Nhân bánh là thịt lợn băm nhỏ xào với hành khô, mộc nhĩ sao cho có vị ngọt đậm đà, thơm dậy. Để gói bánh, người ta lấy lá dong hoặc lá chuối quết bột lên, rắc nhân dọc theo chiều lá rồi gói thành hình nhỏ, dài chừng hơn ngón tay cái, sao cho vỏ bánh bao kín nhân rồi đem luộc hoặc hấp chín. Bánh tẻ ở Sơn Tây gói bằng lá chuối nên vỏ bánh thường có màu hơi nâu vàng, còn bánh tẻ ở những vùng khác gói bằng lá dong nên có màu xanh non. Bánh thường được ăn với nước mắm có rắc chút hạt tiêu, ăn nóng hay nguội đều có vị ngon riêng. Vị bánh thơm ngon, bùi béo nhưng vẫn là món ăn thanh nhẹ, có thể ăn đến no mà không hề thấy ngán. Trước đây, bánh tẻ thường được làm vào các dịp lễ tết và là món bánh dâng lên mâm cúng tổ tiên, còn nay bánh tẻ trở thành món quà được làm quanh năm. Bánh tẻ bán nhiều nhất ở vùng Sơn Tây, nơi có nhiều điểm du lịch văn hóa lịch sử thu hút đông đảo du khách thập phương.
Ngọc Diệp