Gia nhập WTO – những điều cần biết

Cam kết về thương mại dịch vụ

Về diện cam kết, trong Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA), Việt Nam đã cam kết 8 ngành dịch vụ (khoảng 65 phân ngành). Trong thỏa thuận gia nhập WTO, Việt Nam cam kết 11 ngành dịch vụ, tính theo phân ngành khoảng 110.

Cam kết chung cho các ngành dịch vụ, về cơ bản thì như BTA. Trước hết, công ty nước ngoài không được hiện diện tại Việt Nam dưới hình thức chi nhánh, trừ khi điều đó được Việt Nam cho phép cho từng ngành cụ thể. Ngoài ra, công ty nước ngoài tuy được phép đưa cán bộ quản lý vào làm việc tại Việt Nam nhưng phải ít nhất có 20% cán bộ quản lý của công ty phải là người Việt Nam. Tổ chức và cá nhân nước ngoài được mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam nhưng với tỷ lệ phải phù hợp với mức mở cửa của ngành đó. Riêng đối với ngân hàng, Việt Nam chỉ cho phép nước ngoài được mua tối đa 30% cổ phần.

Đối với dịch vụ hỗ trợ khai thác dầu khí, các doanh nghiệp nước ngoài được thành lập công ty 100% vốn nước ngoài sau 5 năm kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO để cung ứng các dịch vụ hỗ trợ cho khai thác dầu khí. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn giữ quyền quản lý các hoạt động trên biển, thềm lục địa và có quyền chỉ định công ty thăm dò, khai thác tài nguyên. Việt Nam cũng bảo lưu được một danh mục các dịch vụ dành riêng cho các doanh nghiệp Việt Nam như dịch vụ bay, dịch vụ cung cấp trang thiết bị và vật phẩm cho giàn khoan xa bờ… Tất cả các công ty vào Việt Nam cung ứng dịch vụ hỗ trợ dầu khí đều phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (hiện nay Việt Nam chưa có chế độ đăng ký này).

Dịch vụ viễn thông, chúng ta có thêm một số nhân nhượng so với BTA nhưng ở mức độ hợp lý, phù hợp với chiến lược phát triển của Việt Nam. Theo đó, Việt Nam cho phép thành lập liên doanh đa số vốn nước ngoài để cung cấp dịch vụ viễn thông nhưng không gắn với hạ tầng mạng (phải thuê mạng của các doanh nghiệp do Việt Nam nắm quyền kiểm soát) và nới lỏng có giới hạn việc cung cấp dịch vụ qua biên giới.

Tuy nhiên, chúng ta giữ lại các hạn chế áp dụng cho viễn thông có gắn với hạ tầng mạng (chỉ các doanh nghiệp mà nhà nước nắm đa số vốn mới được đầu tư hạ tầng mạng, nước ngoài chỉ được góp 49% trong các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có gắn với hạ tầng mạng và cũng chỉ được liên doanh với đối tác Việt Nam đã cấp phép). Như vậy, với dịch vụ có gắn với hạ tầng mạng; ta vẫn giữ được mức cam kết như BTA.

Dịch vụ phân phối, về cơ bản giữ được như BTA. Trước hết, thời điểm cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài như BTA (1-1-2009). Thứ hai, tương tự như BTA, ta không mở cửa thị trường phân phối xăng dầu, dược phẩm, sách, báo, tạp chí, băng hình, thuốc lá, gạo, đường và kim loại quý cho nước ngoài. Nhiều sản phẩm nhạy cảm như sắt thép, phân bón, xi măng… ta chỉ mở cửa thị trường sau 3 năm.

Quan trọng nhất, ta hạn chế khá chặt khả năng mở điểm bán lẻ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (mở từ điểm bán lẻ thứ hai trở đi phải được ta cho phép theo từng trường hợp cụ thể). Dịch vụ bảo hiểm, về tổng thể, mức độ cam kết ngang với BTA. Tuy nhiên, ta đồng ý cho thành lập chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ sau 5 năm kể từ khi gia nhập.

Dịch vụ ngân hàng, ta đồng ý cho thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài không muộn hơn ngày 1-4-2007. Ngoài ra, ngân hàng nước ngoài được thành lập chi nhánh tại Việt Nam nhưng chi nhánh đó sẽ không được phép mở chi nhánh phụ và vẫn phải chịu hạn chế về huy động tiền gửi bằng đồng Việt Nam từ thể nhân Việt Nam trong vòng 5 năm kể từ khi ta gia nhập WTO.

Ta vẫn giữ được hạn chế về mức mua cổ phần của ngân hàng nước ngoài trong Ngân hàng Việt Nam (không quá 30%). Dịch vụ chứng khoán, ta cho phép thành lập công ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài và chi nhánh sau 5 năm kể từ khi gia nhập WTO. Các cam kết khác, với các ngành còn lại (du lịch, giáo dục, pháp lý, kế toán, xây dựng, vận tải…), mức độ cam kết về cơ bản không khác so với BTA. Ta không mở cửa dịch vụ in ấn - xuất bản. 

YẾN THY

Các tin, bài viết khác