Hai năm trở lại đây, ngành điện ảnh - truyền hình Việt Nam đang đứng trước những đổi thay lớn khi Việt Nam hội nhập, Luật Điện ảnh đã ban hành, nhưng “mặt bằng và sức vóc” điện ảnh vẫn là vấn đề còn trăn trở. Phóng viên Báo SGGP đã gặp gỡ và trao đổi một số vấn đề với GS-TS Trần Luân Kim, Chủ tịch Hội Điện ảnh Việt Nam.
* PV: Thưa GS-TS Trần Luân Kim, không ít người lạc quan trước hiện tượng phim ảnh Việt Nam có dấu hiệu phát triển qua sự xuất hiện của những hãng phim tư nhân song hành cùng hãng phim nhà nước.
* GS-TS TRẦN LUÂN KIM: Trước hết tôi muốn nêu lại một số tình hình, thực trạng của các hãng phim nhà nước và hãng phim tư nhân hiện nay. Về phía các hãng phim nhà nước đã cho thấy nhiều khó khăn trước một số yếu tố khách quan lẫn chủ quan khi đấu thầu kịch bản; việc cấp vốn làm phim có khi được, khi không…
Tình trạng hoạt động sản xuất cầm chừng hoặc không sản xuất phim nào, chắc chắn đã làm ảnh hưởng đến đời sống hàng trăm con người ở các hãng phim. Hiện nay, việc cổ phần hóa các hãng phim nhà nước được đặt ra như một giải pháp, nhưng “lối thoát” này xem ra vẫn chưa quyết liệt và lộ trình còn khá chậm chạp.
GS-TS Trần Luân Kim, Chủ tịch Hội Điện ảnh Việt Nam (bìa trái) và các diễn viên điện ảnh.
Về phía các hãng phim tư nhân đang nở rộ con số đăng ký ở cả hai miền Nam - Bắc, nhất là ở TP Hồ Chí Minh, nhưng thực chất hoạt động làm phim chỉ tập trung ở một số hãng lớn. Điều này chứng tỏ làm phim là câu chuyện kinh doanh khá mạo hiểm. Vì vậy, các nhà doanh nghiệp điện ảnh thường chỉ dám chọn đề tài kịch bản ăn khách (dạng phim tâm lý xã hội đời thường, không cần sâu sắc) để dễ thu hồi đồng vốn. Mặt khác, về phía các nhà doanh nghiệp điện ảnh là Việt kiều, tuy có thế mạnh về vốn tài chính, đội ngũ công nghệ chuyên nghiệp, nhưng vẫn chưa “ăn” lắm về đề tài kịch bản (ngoại trừ số ít phim đã thành công).
* Nhân nói đến phim “ăn khách”, chúng ta lại thấy phim “bom tấn” nước ngoài chiếm lĩnh các rạp, làm lu mờ phim Việt Nam, thưa ông?
* Theo tôi, đây cũng là vấn đề thiếu sự liên kết giữa nhà sản xuất và phát hành phim. Chúng ta đang đứng trước tình trạng tương phản quá lớn. Phim nhựa Việt Nam làm ra quá ít, hãng phim tư nhân cũng rất cố gắng nhưng cũng không tránh khỏi chuyện hoặc chạy theo lãi suất, lo lắng lời lỗ; hoặc đôi khi chưa quan tâm đúng mức vấn đề tâm lý, thị hiếu khán giả xem phim…
Luật Điện ảnh ban hành nhằm bảo vệ điện ảnh Việt Nam, nhưng số lượng và chất lượng phim chưa đáp ứng nhu cầu giải trí, thưởng thức nghệ thuật của khán giả ngày nay. Thêm một yếu tố nữa, trong khi phim Việt Nam chưa đủ “sức vóc” thì khán giả lại được tiếp cận quá nhiều phim hay, phim chọn lọc của nước ngoài nhập về, cập nhật “nóng” không thua kém gì các nước trên thế giới… Những tương phản này gây bất lợi cho phim Việt Nam!
* Như vậy, điện ảnh Việt Nam sẽ khó tìm được cơ hội giành vị thế xứng đáng? Còn về phim truyền hình, nhận xét của ông thế nào?
* Tôi không nghĩ điện ảnh Việt Nam bó tay mà là đang tìm phương cách tháo gỡ. Vấn đề hội nhập ngày nay đòi hỏi chúng ta phải nhanh chóng biết phát huy cái hay và khắc phục những cái yếu của mình. Theo tôi, làm phim điện ảnh hay phim truyền hình đều đòi hỏi phải có chất lượng cao.
Quan sát màn ảnh nhỏ hiện nay cho thấy số lượng phim Việt Nam đã gia tăng đáng kể. Nhưng một mặt, cần công tâm khi đánh giá chất lượng phim. Một số phim làm quá cẩu thả với lý do cần làm nhanh cho kịp tiến độ phát sóng, hoặc làm phim với giá thành rẻ, nhanh… thì rõ ràng chính hãng sản xuất đó đã tự hạ thấp thương hiệu của mình.
* Trở lại vấn đề sức vóc còn yếu của điện ảnh truyền hình Việt Nam, ông có cho rằng đào tạo điện ảnh ở nước ngoài sẽ là giải pháp hữu hiệu nhất?
* Đó là mô hình đã thành công của điện ảnh Hàn Quốc. Tất nhiên, ở điều kiện, hoàn cảnh điện ảnh, truyền hình nước mình cần tính toán chiến lược dài lâu. Hiện nay, chúng ta cũng có những lợi thế khi một số anh chị em Việt kiều trẻ về nước làm phim, hoặc một số nhà làm phim Việt Nam đang ở nước ngoài quan tâm đến đề tài của đất nước. Trước mắt, họ cũng là những người hỗ trợ và làm đa dạng các dòng phim Việt Nam đương đại.
Về giải pháp nâng cao sức vóc và chấn hưng điện ảnh Việt Nam, theo tôi, chúng ta cần mạnh dạn đầu tư đào tạo đội ngũ làm điện ảnh trẻ Việt Nam ở một số nước có ngành điện ảnh phát triển cao. Bởi có thật sự cọ xát với công việc làm phim chuyên nghiệp, có môi trường làm việc chuyên nghiệp, nghiên cứu bài bản, thấu đáo mọi vấn đề của nghề phim, song song với việc học tập, nắm bắt sử dụng máy móc, thiết bị công nghệ cao trong quy trình làm phim sẽ giúp họ mở ra những tầm nhìn mới.
Chúng ta cần chuẩn bị đội ngũ khoảng 200 - 500 người đi học nước ngoài đầy đủ các chuyên ngành đạo diễn, diễn viên, quay phim, sản xuất, quản trị, phát hành, phổ biến phim… trong thời gian 5 năm, song song có đào tạo lại hoặc tạo điều kiện thực tập cho một số giảng viên trẻ của các trường điện ảnh Việt Nam. Tôi nghĩ chắc chắn 5 năm tiếp theo, thế và lực của điện ảnh, truyền hình Việt Nam sẽ đổi mới, vươn cao, vươn xa…
* Nhưng về kinh phí, với 200 - 500 học sinh, sinh viên Việt Nam theo học ngành điện ảnh ở nước ngoài, chắc chắn sẽ không nhỏ, thưa ông?
* Chính vì vậy, tôi nghĩ giải pháp chiến lược này cần có sự liên kết hỗ trợ ở cả Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch và Bộ Giáo dục – Đào tạo.
* Xin cảm ơn ông.
KIM ỬNG