Tiểu đường (TĐ) là một bệnh nguy hiểm và đang có chiều hướng gia tăng tại VN. Vấn đề dinh dưỡng đối với họ cần được kiểm soát chặt chẽ. Dưới đây là một số thắc mắc thường gặp ở người bệnh TĐ.
- Người bệnh TĐ có nên ăn gạo lứt thường xuyên không? Có phải cữ ăn củ cải trắng không?
Gạo lứt thuộc nhóm thức ăn bột đường, cung cấp năng lượng và cả các vitamin nhóm B cho cơ thể. Trong gạo lứt chứa nhiều xơ nên tốt cho người bệnh TĐ, tuy nhiên nếu ăn nhiều quá nhu cầu cần thiết của cơ thể, đường huyết vẫn có thể tăng.
Củ cải trắng có chứa 3,7% chất bột đường, 1,5% chất xơ, 1,5% chất đạm, còn lại là một ít vitamin và chất khoáng. Do đó về mặt năng lượng, củ cải trắng cung cấp không đáng kể và thành phần đường không cao, người bệnh TĐ có thể dùng được.
- Đường trong nước ngọt, mía, trái cây và trong sữa có khác nhau? Đường trong sữa DiabetCare (của Nutifood) là đường gì, có thể dùng cho người bệnh TĐ không? Nên uống sữa này lúc nào thì tốt?
Đường mía là đường Sucrose, đường trái cây là đường Fructose. Trong sữa, chất bột đường thường là Lactose, còn trong nước ngọt thường là đường Sucrose.
DiabetCare là loại sữa đặc biệt dành riêng cho người bệnh TĐ nên có thể dùng được. Thành phần chất bột đường trong DiabetCare chứa Isomalt, Fructose hấp thu chậm nên không làm tăng đường huyết quá nhanh, có thể dùng làm bữa ăn sáng, bữa ăn phụ hay thay thế các bữa ăn khác trong ngày cho người bệnh TĐ (1ml cung cấp 1Kcal).
- Người bệnh TĐ dùng đường Aspartam, Saccharine, Succralose… để uống cà phê, pha đá chanh được không?
Các loại đường này thay thế vị ngọt của đường mía và không cung cấp năng lượng, sử dụng được ở người TĐ (trong liều lượng cho phép- không quá 40gam/kg trọng lượng cơ thể/ngày).
- Có phải ăn bún tốt hơn ăn mì khô hay bánh đa (bánh tráng), tại sao vậy, vì tất cả đều làm từ bột, gạo mà ra?
Những loại thực phẩm này đều thuộc nhóm bột đường và đều ảnh hưởng đến lượng đường trong máu khi ăn vào. Tuy nhiên, khi ăn cùng một trọng lượng giữa bún, mì khô hay bánh đa thì bún làm tăng đường ít hơn vì thành phần chất bột đường trong bún ít hơn, nhưng nếu ăn trọng lượng bún nhiều hơn số bánh đa hay mì khô thì đường huyết vẫn sẽ tăng cao.
- Trái cây nào tốt cho người TĐ, nên ăn lúc nào?
Trái cây ít ngọt như bưởi, mận, lê, táo, sơ ri, cam, quít, thanh long, măng cụt, dâu… đều có thể dùng được ở người bệnh TĐ. Tốt nhất nên ăn sau mỗi bữa ăn chính, vì bữa ăn chính với nhiều loại thực phẩm sẽ ít làm tăng đường huyết hơn.
Tuy nhiên nếu bữa ăn đã có nhiều chất bột đường rồi thì không nên ăn thêm trái cây nữa vì sẽ có nguy cơ làm tăng đường trong máu do tổng số bột đường quá lớn. Khi đó nên ăn phần trái cây vào bữa phụ.
- Người bệnh TĐ có phải cữ bột đường hoàn toàn không?
Bột đường là thực phẩm cung cấp năng lượng duy trì hoạt động cơ thể, đặc biệt là tế bào não. Do đó, người bệnh TĐ vẫn cần chất bột đường, nhưng chọn lựa các loại bột đường ít làm tăng đường trong máu và ăn với số lượng vừa đủ. Cũng có thể sử dụng một số loại sữa có chỉ số đường huyết thấp như DiabetCare...
Nếu kiêng tuyệt đối chất bột đường, rất dễ bị hạ đường huyết, nhất là khi đang dùng thuốc hạ đường huyết. Bữa ăn hàng ngày vẫn có thể nêm đường. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân đang trong giai đoạn đường huyết cao thì nên hạn chế.
TĐ có di truyền không? Làm sao để tránh và phát hiện bệnh sớm?
TĐ có thể di truyền, nhưng không hẳn tất cả những người con trong gia đình đều bị bệnh. Và nếu biết cách phòng ngừa thì bệnh TĐ cũng xuất hiện rất muộn hoặc nhẹ. Ngược lại dù không di truyền nhưng lối sống không tốt thì vẫn bị TĐ, nhất là khi thừa cân, ít vận động.
Do đó, để phòng ngừa, cần năng vận động, ăn uống hợp lý, duy trì mức cân nặng lý tưởng (BMI= cân nặng (kg)/ bình phương chiều cao (mét); mức bình thường là 18,5-23); hạn chế ăn nhiều chất béo động vật, thức ăn nhanh, rượu bia, nước ngọt…
Với người chưa bị TĐ, từ 30 tuổi trở lên, nếu có một trong các yếu tố nguy cơ sau, cần xét nghiệm máu mỗi năm 1 lần: béo phì hoặc thừa cân (BMI từ 23 trở lên, vòng bụng nam từ 90cm và nữ từ 80cm trở lên); có cha mẹ hoặc anh chị em ruột mắc bệnh TĐ; đã bị cao huyết áp; có rối loạn chuyển hóa mỡ trong máu Triglycerid > 250mg/dl, HDL.C < 35 mg/dl; đã bị rối loạn đường huyết lúc đói hoặc rối loạn dung nạp đường; phụ nữ sinh con to trên 4kg lúc mới sinh hoặc được chẩn đoán TĐ thai kỳ, bị sẩy thai hoặc thai chết lưu. Từ 45 tuổi trở lên, nếu không có các yếu tố nguy cơ trên, xét nghiệm máu mỗi 3 năm 1 lần.
- Người bị TĐ thì nước tiểu bị kiến bu, đúng không?
Người bị TĐ nếu kiểm soát đường huyết tốt, đường trong máu không cao thì sẽ không có đường trong nước tiểu. Khi nào lượng đường trong máu vượt quá 170mg/dl sẽ có đường trong nước tiểu và kiến rất thích mùi đường này.
BS. HUỲNH PHƯƠNG