Thất thoát sau thu hoạch lúa - Lỗi và trách nhiệm của “4 nhà” - Bài 3: Công nhân trồng lúa

Thất thoát sau thu hoạch lúa - Lỗi và trách nhiệm của “4 nhà” -  Bài 3: Công nhân trồng lúa

“Bệnh” của đồng lúa Việt Nam, theo nhiều nhà nghiên cứu, nhìn chung là “căn bệnh” của cách buôn bán, làm ăn qui mô nhỏ lẻ, khi nông dân chỉ tìm cách làm có lợi nhất cho mình mà không nhìn thấy cái thiệt hại chung cho tổng thể. Với xu thế cạnh tranh hiện nay, không cách nào khác, việc sản xuất, thu mua, xử lý sau thu hoạch phải được thực hiện chuyên nghiệp. Nói một cách ví von, nông dân phải chuyên nghiệp hóa, đồng bộ hóa với nhau như những công nhân trên ruộng…

Trăm người, mười giống

Nhu cầu về giống lúa hàng năm ở ĐBSCL khoảng 400.000 tấn nếu tính trên cơ sở mỗi ha diện tích gieo trồng cần khoảng 100 kg lúa giống, nhưng năng lực sản xuất của các công ty, trung tâm giống, HTX, tổ hợp tác... chỉ đáp ứng khoảng 34%. Đây là bước tiến bộ vượt bậc, bởi vào năm 2001, hạt giống tốt (giống xác nhận) chỉ có 2%, đến năm 2003 nâng lên 10%, năm 2004 lên 20%.

Thất thoát sau thu hoạch lúa - Lỗi và trách nhiệm của “4 nhà” -  Bài 3: Công nhân trồng lúa ảnh 1
Phần lớn kho chứa lúa hiện nay ở ĐBSCL đã xuống cấp, thiếu các phương tiện bảo quản để trữ lúa quá 6 tháng. Ảnh: MINH TRƯỜNG

Trong năm 2007 và 2008, hầu hết các tỉnh ĐBSCL gieo trồng rất nhiều giống chủ lực mà nếu thống kê ra đây phải mất 2 trang giấy A4. Theo các nhà nghiên cứu, số lượng giống quá lớn cũng là một hạn chế trong việc xuất khẩu gạo tập trung của Việt Nam. Khi trong một lô xay xát có quá nhiều giống lúa khác nhau, thì mặc dù máy móc của chúng ta có thể xử lý lau bóng rất tốt, rất đẹp cho từng hạt gạo, nhưng cả lô gạo vẫn không có tính đồng đều: hạt tròn, hạt dài, hạt trắng nhiều, hạt trắng ít khác nhau.

Trên thế giới, gạo không đồng đều không thể có giá cao được. Hơn thế nữa, với việc diện tích ruộng trên đầu người của ĐBSCL không cao, khi các chủ nhân của ruộng lúa không thể hợp tác chặt chẽ để trồng lúa, việc đồng bộ hóa các khâu xử lý sau thu hoạch cũng gặp nhiều khó khăn.

Trước đây cũng đã có một số đơn vị thử nghiệm hình thức bao tiêu sản phẩm, để người dân trồng một giống lúa trên diện rộng với sự hỗ trợ của doanh nghiệp và một giá thu mua định sẵn.

Nhưng vì nhiều lý do, phần lớn các chương trình này không thể thực hiện lâu dài. Gần đây nhất, tại ĐBSCL đã thử nghiệm mô hình mới để phục vụ kế hoạch sản xuất 1 triệu tấn lúa chất lượng cao (CLC) trong vụ đông xuân 2006-2007 để chế biến gạo xuất khẩu.

Trong năm 2006, 8 tỉnh ĐBSCL đă đăng ký chính thức 225.000 ha gieo trồng lúa CLC. Đơn vị hợp đồng thu mua sản phẩm là Tổng công ty Lương thực miền Nam và các công ty thành viên. Tuy nhiên, các đơn vị chỉ mua được 22,5% sản lượng trên 114.116 ha đã hợp đồng sản xuất. Theo nhận định chung, đến nay chương trình 1 triệu ha lúa CLC xuất khẩu đang gặp nhiều khó khăn do thiếu giống, khó tiêu thụ và phát sinh sâu bệnh do canh tác quá lớn diện tích lúa thơm.

Chuyên nghiệp hóa, cách nào?

Câu chuyện chuyên nghiệp hóa sản xuất và xử lý sau thu hoạch cho ĐBSCL, theo các nhà nghiên cứu, gặp khó khăn từ nhiều phía và đòi hỏi phải thay đổi đồng bộ. Việc tập hợp nông dân thành các hợp tác xã, các tập đoàn sản xuất lúa là một cách làm cần thiết để có những vùng trồng lúa tập trung.

Khâu chế biến sau thu hoạch phải được chuẩn hóa tuân theo đúng quy trình, bao gồm việc chuẩn hóa hệ thống thu mua lúa phơi, lúa sấy, chuẩn hóa và đồng bộ hóa các nhà máy xay xát, để có thể xay xát tốt loại lúa có ẩm độ 14%, tránh việc cho phép thành lập các nhà máy cỡ nhỏ với công nghệ lạc hậu, chỉ có khả năng xay xát lúa có ẩm độ cao. Các kho lưu trữ nhà nước và của các doanh nghiệp phải gắn chặt với các nhà máy xay – sấy lúa.

Một vấn đề khác được nhiều nhà nghiên cứu đề xuất là chúng ta cần phải xem xét lại hệ thống phân phối và cơ chế thu mua lúa gạo. Hiện nay hầu hết công ty quốc doanh đều thu mua lúa thông qua thương lái.

Bên cạnh định hướng chuyên nghiệp hóa đối với những người nông dân, ngay cả các doanh nghiệp, các đơn vị thu mua lúa cũng cần chuyên nghiệp hóa hơn. Các doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần hạn chế mua gạo, lúa trôi nổi trên thị trường, góp phần hình thành thị trường bao tiêu sản phẩm.

Đây cũng là cách làm để tránh mua đại trà, trộn lẫn quá nhiều loại gạo, không xây dựng được thương hiệu. Việc doanh nghiệp thu mua xuất khẩu có thể bán gạo giá cao, có lượng gạo thành phẩm cao hơn, giảm thất thoát hơn sẽ góp phần tác động ngược lại, làm tăng giá thu mua lúa của nông dân.

Để giảm thất thoát, tất nhiên vai trò đầu tàu của nhà nước là tối quan trọng. Hệ thống kho lưu trữ gạo của nhà nước phải đạt tiêu chuẩn, khối lượng đủ lớn để tích trữ cho những mùa bội thu. Các đơn vị kinh doanh xuất khẩu gạo của nhà nước phải đủ mạnh để có thể điều chỉnh thị trường, bằng các biện pháp kinh tế đơn thuần, để chống tình trạng tư thương đầu cơ, ép giá nông dân.

Bài toán sau thu hoạch không chỉ là bài toán của công nghệ sau thu hoạch, mà còn là bài toán của tập quán sản xuất, của đặc điểm kinh tế xã hội và đặc biệt là bài toán thị trường. Phải giải ra sao để nông dân có thể “tư duy trên mảnh đất của mình” là trách nhiệm chung của cả “4 nhà”: nhà nước, nhà nông, nhà khoa học và doanh nghiệp. 

M. TÚ – M. LONG – T. HÀ 

Theo TS Phan Hiếu Hiền, một trong các vấn đề nổi cộm nhất trong xử lý sau thu hoạch tại ĐBSCL là việc phát triển máy sấy. Ông cho rằng có thể chia ra 4 giai đoạn phát triển máy sấy.

Giai đoạn 1: máy sấy bắt đầu ở hộ nông dân, để cứu lúa cho chính họ. Chủ máy xay dửng dưng, vì lúa hư không phải của họ.

Giai đoạn 2: Nhiều hộ dân lắp máy sấy để sấy thuê, để kinh doanh. Một số nhà máy xay trang bị máy sấy để kinh doanh.

Giai đoạn 3: Ngày càng nhiều chủ máy xay xây lò sấy, cạnh tranh để mua được lúa ướt. Nông dân bán thẳng lúa ướt mà không thiệt thòi gì.

Giai đoạn 4: Các chủ máy xay trang bị máy sấy tốt hơn, hiện đại hơn để chuyên nghiệp hóa hơn việc sấy lúa của mình.

Mô hình TS Hiền đưa ra là một minh chứng cho việc chuyên nghiệp hóa trong xử lý sau thu hoạch có thể diễn tiến từ từ theo sự tác động của thị trường. Rõ ràng, đó là một qui trình chuyên nghiệp hóa tốt để có thể có được loại lúa có độ ẩm phù hợp cho các công đoạn xử lý sau thu hoạch. Vấn đề là khi chúng ta đã nhìn thấy bước phát triển đó là tốt thì chúng ta nên làm thế nào để các bước phát triển có lợi như vậy diễn ra nhanh hơn?

* Thông tin liên quan:

Bài 2: Chuyện ghi ở vựa

Bài 1: Thất thoát 1%: 7 triệu USD!

Tin cùng chuyên mục