Chúng ta biết quá ít về “biển bạc”!

“Chúng ta vẫn còn hiểu biết quá ít về “biển bạc”, về nguồn tài nguyên thiên phú cho Việt Nam, do đó chưa khai thác hết tiềm năng kinh tế biển”. Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã nhận định như vậy trong một hội nghị quốc gia tài nguyên môi trường biển được tổ chức gần đây.

Quả thực, hầu hết các quốc gia phát triển nhất trên thế giới đều là những nước có biển và có nền kinh tế biển mạnh. Không phải ngẫu nhiên mà thế kỷ XXI được Liên hiệp quốc ghi nhận là “thế kỷ của đại dương”.

Mặc dù tập hợp dữ liệu về đại dương của Việt Nam còn khá sơ sài, song theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, hàng năm kinh tế biển Việt Nam đóng góp khoảng 12% GDP và 50% giá trị xuất khẩu của cả nước. Cứ khoảng 1km2 đất liền của nước ta có xấp xỉ 3km2 vùng lãnh hải và đặc quyền kinh tế; diện tích của 28 tỉnh và thành phố ven biển là 208.560 km2, chiếm 51% tổng diện tích Việt Nam và dân số xấp xỉ 41,2 triệu người, chiếm một nửa dân số cả nước.

Theo ông Văn Hữu Chiến, Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng, địa phương thực sự có nhu cầu được cung cấp thông tin tài nguyên và môi trường biển phục vụ việc lập quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành kinh tế. Đây cũng là cơ sở không thể thiếu để quyết định lựa chọn hình thái tự nhiên (vũng, vịnh, đảo, bờ sông, bờ biển...) có khả năng phát triển các dự án thương mại, du lịch, dịch vụ của thành phố.

Đặc biệt, địa phương rất mong muốn có những nghiên cứu về rủi ro vùng bờ, dự báo khả năng xảy ra những biến động về địa chất..., nhưng những thông tin loại này hầu như chưa có hoặc chưa đủ độ chính xác cần có!

Theo Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Mai Ái Trực, quản lý yếu kém trong khai thác tài nguyên biển và cách tiếp cận quản lý đơn ngành, chỉ coi trọng lợi ích trước mắt là thách thức lớn đối với nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Báo cáo hiện trạng môi trường mới nhất chỉ ra rằng, chất lượng môi trường biển và vùng ven bờ của nước ta bị suy giảm khá nhanh. Dầu, kẽm, các chất thải sinh hoạt và chất rắn lơ lửng ở mức đáng lo ngại. Chất lượng trầm tích đáy biển ven bờ (nơi cư trú của nhiều loại hải sản) cũng bị ô nhiễm.

Hệ quả là đa dạng sinh học động vật đáy ở vùng ven biển miền Bắc và thực vật nổi ở miền Trung suy giảm rõ rệt. Đã có 85 loài hải sản được xếp vào những cấp độ nguy cấp khác nhau, trong đó có trên 70 loài được đưa vào Sách Đỏ.

Điều đáng buồn là một khi nguồn lợi suy giảm thì những biện pháp khai thác mang tính hủy diệt như dùng xung điện, chất độc, thuốc nổ... lại chưa được ngăn chặn một cách hiệu quả. “Vấn đề bao trùm là chưa có sự tổ chức thống nhất, hệ thống trong điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên môi trường biển, dẫn đến tình trạng tự phát, thiếu định hướng phát triển bền vững”, Bộ trưởng nhận định.

Nhằm “lấp đầy” khoảng trống này, gần đây, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức triển khai Đề án Điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với kinh phí 2.916 tỷ đồng).

Theo các chuyên gia hải dương học, yếu tố quyết định thành công của đề án là nâng cao trình độ khoa học công nghệ biển, bao gồm cả việc bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ khoa học, bởi lẽ đây là công tác phức tạp, đối tượng nghiên cứu rất rộng, rất đa dạng và thường xuyên biến động... Thế nhưng, vấn đề trình độ của đội ngũ các nhà khoa học biển cũng còn nhiều vấn đề cần bàn. 

ANH THƯ

Tin cùng chuyên mục