* Không cho phép xây dựng các cơ sở có nguy cơ gây sự cố môi trường
Theo Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ môi trường Nguyễn Hòa Bình, cứ 5 năm một lần, báo cáo môi trường quốc gia sẽ đề cập một cách toàn diện đến các lĩnh vực môi trường và hàng năm, một lĩnh vực “nóng” nhất sẽ được tiến hành điều tra, nghiên cứu.
Năm 2006, vấn đề nổi bật chính là hiện trạng môi trường nước nói chung và môi trường nước 3 lưu vực sông: sông Cầu, sông Nhuệ – Đáy và sông Đồng Nai nói riêng. Đây là 3 lưu vực sông ô nhiễm nhất; trên 3 lưu vực này có 2 vùng kinh tế trọng điểm lớn nhất và tập trung đông dân cư nhất.
Đặc biệt, lưu vực hệ thống sông Đồng Nai có 11 tỉnh thành, trong đó có 6 tỉnh thành thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam: TPHCM, Tây Ninh, Long An, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu đang đóng góp tới 40% mức thu cho ngân sách nhà nước.
Ô nhiễm nước gây ra những hậu quả trông thấy
Thanh niên tình nguyện dọn cỏ trên kênh Lò Gốm. Ảnh: ĐỨC THIỆN
Mặc dù là một bản báo cáo khoa học, báo cáo môi trường quốc gia năm 2006 đã sử dụng hình ảnh mạnh mẽ: “dòng sông chết” để nhận xét về mức độ ô nhiễm của nhiều đoạn hạ lưu các sông trong lưu vực sông Đồng Nai.
Nước sông Đồng Nai bị ô nhiễm chất rắn lơ lửng vượt tiêu chuẩn từ 3-9 lần; ô nhiễm vi sinh ở mức cao, khu vực hạ lưu còn bị nhiễm mặn nghiêm trọng, không thể sử dụng vào mục đích cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu.
Hệ thống sông Sài Gòn cũng bị ô nhiễm chất hữu cơ, vi sinh và nhiều nơi đã có dấu hiệu ô nhiễm kim loại nặng. Mức độ ô nhiễm ngày càng tăng trong những năm gần đây. Hầu hết các chỉ tiêu sinh hóa đều không đạt tiêu chuẩn, đáng lưu ý là hàm lượng dầu trong nước sông dao động trong khoảng 0,03mg/l, trong khi tiêu chuẩn không cho phép dầu hiện diện trong nguồn nước dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt!
Tuy nhiên, ô nhiễm nhất trong lưu vực là sông Thị Vải. Một đoạn sông dài khoảng 10km từ sau khu vực hợp lưu với Suối Cả đến khu công nghiệp Mỹ Xuân. Nước bị ô nhiễm hữu cơ nghiêm trọng, bốc mùi hôi thối, kể cả khi triều lên và triều xuống, giá trị DO thấp đến mức gần bằng 0, không đủ điều kiện cho các loài sinh vật sinh sống. Thông số N-NH4+ và coliform vượt chuẩn từ hàng chục đến hàng trăm lần…
Hệ quả của ô nhiễm lưu vực sông rất hiển nhiên. Một ví dụ điển hình: tại tỉnh Bình Dương (thuộc sông Đồng Nai), 3 huyện không chịu ảnh hưởng của nước sông ô nhiễm có tỷ lệ người dân mắc các bệnh đường ruột thấp hơn rất nhiều so với các huyện bị ảnh hưởng như Bến Cát, Dầu Tiếng hay Tân Uyên. Sông Thị Vải “nhiễm bệnh” còn ảnh hưởng nặng nề đến nguồn lợi thủy sản, làm nghèo hệ sinh thái nước. Trên toàn lưu vực sông, việc giải quyết nhu cầu nước cho sinh hoạt và các hoạt động sản xuất gặp rất nhiều khó khăn.
Không thể giải quyết vấn đề trong địa giới hành chính!
77 cơ sở sản xuất kinh doanh và khu công nghiệp đang hoạt động bên sông Thị Vải hầu hết không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nội dung đã được phê duyệt trong báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường. Chỉ có 12 cơ sở xây dựng hạng mục xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn Việt Nam. Có 28 cơ sở vi phạm các quy định về xả nước thải gây ô nhiễm… |
Đó là kết luận quan trọng mà bản báo cáo đưa ra. “Nếu không có một cách nhìn toàn diện thì những mâu thuẫn quyền lợi giữa các địa phương trong lưu vực sông Đồng Nai sẽ xảy ra và rất khó giải quyết”, Phó Cục trưởng Nguyễn Hòa Bình nhận xét.
Trên thực tế, TPHCM đã từng phải lên tiếng phản đối gay gắt dự án kho xăng dầu Rạch Trâu (Bình Dương), hàng loạt dự án xây dựng khu xử lý rác cho địa bàn Nam Bình Dương cũng trúc trắc, gian nan không kém! Trong khi đó, hệ thống pháp luật có liên quan đến kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất lượng nước còn nhiều hạn chế, một số tổ chức, ủy ban lưu vực sông tuy đã được thành lập nhưng đến nay không còn hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng, kém hiệu quả.
Được biết, sau khi đề án bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm “xốc” lại và tăng cường hiệu quả phối hợp giữa các bộ ngành và địa phương trong vấn đề này, một đề án tương tự đối với lưu vực sông Đồng Nai hiện đang trong giai đoạn hoàn thiện lần cuối, trong đó có những quy định mạnh mẽ hơn, trao thực quyền và cơ chế phối hợp dễ dàng hơn cho các ban quản lý lưu vực sông.
Cũng trong số các giải pháp nhằm cải thiện tình hình, báo cáo quốc gia nêu trên còn nhấn mạnh đến các công cụ kinh tế, bao gồm định giá dịch vụ nước, tự chủ tài chính doanh nghiệp, thuế tài nguyên nước và các thuế khác, chính sách huy động vốn đầu tư phát triển, thu phí bảo vệ môi trường…
Báo cáo cũng đã đề cập đến những giải pháp mạnh như kiên quyết ngăn chặn các nguồn gây ô nhiễm mới, thậm chí không cho phép xây dựng các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hoặc “sự cố” môi trường. Cụ thể, với lưu vực sông Đồng Nai, 5 loại hình công nghiệp là chế biến tinh bột sắn, chế biến mủ cao su, sản xuất hóa chất cơ bản (có phát sinh nước thải công nghiệp), nhuộm và thuộc da sẽ không được phép đầu tư thêm.
5 loại hình khác sẽ bị hạn chế, bao gồm công nghiệp xi mạ, chế biến thủy sản, sản xuất hóa chất bảo vệ thực vật, sản xuất phân bón và sản xuất bột giấy.
Các khu vực sẽ bị kiểm soát chặt chẽ trong lưu vực sông Đồng Nai: |
ANH THƯ