Trong bài “Không còn chỗ cho doanh nghiệp đen” đăng trên báo SGGP ngày 19-9-2008, ông Ngô Anh Tuấn, Phó ban Quản lý KCX-KCN TPHCM đã trả lời: “Trong thời gian tới, những doanh nghiệp nào tái vi phạm việc gây ô nhiễm môi trường sẽ bị rút giấy chứng nhận đầu tư”. Như vậy có thể hiểu chỉ những doanh nghiệp tái vi phạm môi trường mới bị rút giấy chứng nhận đầu tư, còn những doanh nghiệp lần đầu vi phạm môi trường thì không bị rút giấy chứng nhận đầu tư dù có để lại hậu quả như thế nào. Liệu điều đó có thực hiện được?
Khi một doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2005 và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì nghĩa vụ của nhà đầu tư là “Thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường” (khoản 6 Điều 20 Luật Đầu tư) và nghĩa vụ của doanh nghiệp là “Tuân thủ quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh” (khoản 7 Điều 9 Luật Doanh nghiệp). Trách nhiệm bảo vệ môi trường của nhà đầu tư, của doanh nghiệp chỉ vỏn vẹn có thế.
Còn theo khoản 2 Điều 64 Luật Đầu tư về thu hồi giấy chứng nhận đầu tư thì “Dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư sau 12 tháng mà nhà đầu tư không triển khai hoặc không có khả năng thực hiện theo tiến độ đã cam kết và không có lý do chính đáng thì bị thu hồi giấy chứng nhận đầu tư” và khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp quy định các hành vi vi phạm pháp luật dẫn đến doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và bị xóa tên trong sổ đăng ký kinh doanh thì tuyệt nhiên không có quy định hành vi vi phạm môi trường.
Tại Điều 24, 25 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 thì các cơ sở sản xuất kinh doanh phải có cam kết bảo vệ môi trường. Cam kết thực hiện các biện pháp giảm thiểu, xử lý chất thải và tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Việc xử lý cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm môi trường thì quy định bằng biện pháp phạt tiền và buộc thực hiện biện pháp giảm thiểu, xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường; hoặc tạm thời đình chỉ hoạt động cho đến khi thực hiện xong biện pháp bảo vệ môi trường cần thiết.
Nếu cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thì buộc di dời cơ sở đến vị trí xa khu dân cư và phù hợp với sức chịu tải của môi trường hoặc cấm hoạt động (Điều 49 Luật Bảo vệ môi trường). Còn Nghị định số 81/2006/NĐ-CP quy định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường bên cạnh quy định mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là 70.000.000 đồng thì chưa đủ tính răn đe doanh nghiệp vi phạm môi trường.
Ngoài ra, còn có những biện pháp bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả là cấm hoạt động hoặc buộc di dời cơ sở đến vị trí xa khu dân cư và phù hợp với sức chịu tải của môi trường. Tuy nhiên, nên lưu ý rằng Bộ Tài nguyên và Môi trường phải công bố mức gây ô nhiễm môi trường như thế nào là nghiêm trọng thì mới áp dụng Điều 49 Luật Bảo vệ môi trường nhằm buộc di dời cơ sở đến vị trí xa khu dân cư và phù hợp với sức chịu tải của môi trường hoặc cấm hoạt động, và cần nói thêm “cấm hoạt động” không đồng nghĩa là “rút giấy chứng nhận đầu tư” của doanh nghiệp.
Mặt khác, cũng cần nêu rõ trách nhiệm của Ban Quản lý KCX-KCN TPHCM trong hoạt động bảo vệ môi trường. Cụ thể, theo Nghị định 29/2008/NĐ-CP quy định Ban quản lý KCX - KCN phải tổ chức thực hiện thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án đầu tư; phối hợp kiểm tra, thanh tra việc thực hiện bảo vệ môi trường sinh thái đối với các dự án tại KCX, KCN; báo cáo định kỳ với cơ quan chức năng về tình hình thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường sinh thái trong KCX, KCN.
Tuy nhiên, hiện có hơn 1.000 doanh nghiệp đầu tư sản xuất tại 15 KCX, KCN nhưng vẫn còn gần 200 doanh nghiệp chưa đấu nối vào hệ thống xử lý nước thải tập trung của các KCX, KCN. Nhiều chủ đầu tư hạ tầng chây lì hoặc không đủ lực xây dựng hệ thống xử lý chung, dẫn đến tình trạng có những KCN lấp đầy đến 70% - 80% diện tích nhưng nước thải chưa xử lý vẫn vô tư xả thải ra môi trường.
Vậy thì Ban Quản lý KCX-KCN TPHCM đã xử lý những doanh nghiệp vi phạm gây ô nhiễm môi trường như thế nào trong thời gian qua và nay, liệu đã có cơ sở pháp lý để “rút giấy chứng nhận đầu tư” của những doanh nghiệp đen vi phạm môi trường? Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp cần phải gấp rút bổ sung thêm điều khoản về việc doanh nghiệp vi phạm môi trường nghiêm trọng thì sẽ bị rút giấy phép đầu tư. Có như vậy mới tháo gỡ được việc “vướng” luật trong xử lý vi phạm môi trường.
Luật sư HỒ NGUYÊN LỄ