Bài dự thi ký văn học chân dung “Người đương thời”

Anh bộ đội “đuổi” bệnh cho bản làng

Một buổi sáng thức dậy, bà con dân tộc Mông ở Xuân Nha (Mộc Châu, Sơn La) thấy lòng hụt hẫng như vừa đánh mất những đồng bạc trắng trong tay. Tất cả rủ nhau ra bãi đất bằng phẳng nhìn về phía con đường xiên vào núi, ngoặt sang bản Sa Lai, giáp đất Mường Lý (huyện Mường Lát - Thanh Hóa). Núi vút vào mây, bóng những người lính Đội công tác 123 Xuân Nha mờ dần trong trùng điệp núi non. Không biết đến bao giờ họ được gặp lại các anh.

Mới ngày nào vậy mà đã sáu năm. Khoảng thời gian đó đủ để đứa trẻ lớn lên bắt đầu cắp sách tới trường. Và hôm nay, đứa bé đó đang nép sát bên mẹ, nó giơ đôi tay nhỏ xíu vẫy vẫy chào các chú bộ đội. Sáu năm trước, nó đã ra đời trên tay một người đàn ông làm “bà đỡ”. Nó không biết mà chỉ nghe mẹ kể thế. Mẹ bảo: “Nếu không có ông ấy đến kịp thời, chưa chắc mẹ con ta còn sống. Ông ấy là bộ đội đấy”.

Giờ thì người đó đang đi cùng đoàn quân, đi về phía trong con đường trước mặt cách bản của nó mấy chục cây số đường rừng. Nó đứng nhìn theo mãi. Bà con cũng nhìn theo mãi. Bóng dáng đoàn quân đã khuất sau khúc cua rồi mà chẳng ai muốn về.

Bộ đội đến bản mới để hướng dẫn đồng bào phát triển kinh tế và khám chữa bệnh cứu người. Bản nó ở có người tự biết chữa bệnh cho mình và cũng tự biết cách phòng chống bệnh tật cho cả gia súc nên bộ đội phải đi vào các bản khó khăn hơn.

Thượng tá Hoàng Văn Chỉ hướng dẫn bà con trồng rau ở Xuân Nha. Ảnh: HOÀNG NGHIỆP

Nhớ ngày trước, bộ đội chưa về, Xuân Nha còn lạc hậu lắm. Bà con ốm không có thuốc uống hoặc nếu có cũng rất ít. Nhiều người không có thói quen dùng thuốc, ốm là cúng. Cúng để đuổi con “ma rừng”. Dịch tễ thường xảy ra vì ăn ở thiếu vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi làm sát nhà. Người ốm không thể đưa tới viện vì đường sá cách trở, kinh tế khó khăn. Đó là đặc trưng chung của các xã biên giới vùng cao, trong đó có Xuân Nha.

Từ ngày bộ đội về, bản làng no ấm hơn, bệnh tật không còn hoành hành nữa. Bộ đội đã cấp thuốc miễn phí và khám chữa bệnh cho hàng ngàn lượt người dân. Đó là nhiệm vụ và cũng là trách nhiệm. Nhưng thuốc của bộ đội có hạn nên không thể đáp ứng hết nhu cầu của đồng bào. Có trường hợp tử vong vì thuốc không đủ hoặc do thiếu hiểu biết.

Xã Xuân Nha núi cao, rừng rậm có rất nhiều cây thuốc quý. Bà con hiểu thế nhưng không ai biết cách sử dụng, thành ra ốm trên đống thuốc mà đành chịu. Rồi mọi cái bất ngờ thay đổi khi trong Đội công tác 123 có người đàn ông rất giỏi về thuốc nam. Anh là thượng tá - đội trưởng Hoàng Văn Chỉ.

Chính anh là nhân vật mà mẹ đứa bé kể cho con mình nghe chuyện nó ra đời cách đây 6 năm về trước. Bà con ở đây vẫn còn nhớ mãi, đó là vào một đêm mùa đông trời lất phất mưa, gió đại ngàn tràn vào thung lũng rít lên từng hồi buốt cóng. Một người đàn ông lạ gấp gáp vào gõ cửa Đội Công tác 123, tiếng thở của anh luồn qua khe vách:

- Bộ đội Chỉ ơi, bộ đội Chỉ à, vợ mình sắp đẻ rồi. Nó đau bụng quá cắn cả vào lưỡi. Dưới chân đầy máu.

- Nhà ở đâu, sao giờ mới nói?

- Bây giờ mới nói được. Thầy cúng bảo không sao, nhưng mình thấy nguy kịch quá. Có kịp cứu không cán bộ Chỉ?

Anh lao theo người đàn ông mà quên khoác cái áo ấm lên người. Gió sàn sạt thổi. Anh cắt ngang mấy quả đồi, qua cái biển xi măng gắn dòng chữ “Khu vực biên giới”. Phía trước là rừng già chia đôi ranh giới hai nước Việt- Lào và con suối chảy ngầm trong lòng núi, ở đó đang có tiếng kêu, tiếng rên yếu ớt bị tiếng lá rừng lạt sạt át đi. Người phụ nữ quằn quại trong vũng máu, chị ta bị “sản giật”. Nếu không có bàn tay anh, chưa hẳn đêm ấy ở bản Nà Hiềng bà con được nghe tiếng khóc của đứa trẻ chào đời.

Đây là trường hợp đầu tiên ở Nà Hiềng mà tự tay anh cứu. Nhưng cũng có bệnh nhân ốm nặng đội phải cử người chở đi bệnh viện huyện. Hôm nay tiễn bộ đội lên đường, mẹ đứa bé ấy cảm nhận được ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết ngày nào sinh nó, cũng như nghĩa cử cao đẹp của người thầy thuốc, nên buồn vì cảnh chia tay. Nó bé quá không hiểu, thấy mẹ buồn thì cũng buồn theo. Mới chiều qua bộ đội còn cùng bà con san sân bóng, bộ đội Chỉ thì đi bản chữa cho một người đàn ông vào rừng lấy củi bị rắn độc cắn, vậy mà sáng nay các anh đã chia tay mọi người. Cách chữa rắn cắn của anh rất đơn giản: dùng nước rửa sạch vết thương, lấy lá thuốc nhai nát và đắp lên đó, mấy tiếng sau nọc độc tan và máu lưu thông trở lại. Rắn độc cắn rất nguy hiểm, nếu không kịp thời garô, nọc độc sẽ chạy vào tim và gây hoại tử phần bị cắn.

Anh nói với tôi: “Mình phải có cái tâm, cái đức thì chữa mới được”. Không biết lời anh thế nào, nhưng đúng là đã có rất nhiều thầy thuốc giỏi bảo như vậy.

Biết tin Đội công tác chuyển vào bản Bun Lay và A Lăng của xã Tân Xuân (tách ra từ xã Xuân Nha) nhận nhiệm vụ mới, chị Đinh Thị Vân, người dân tộc Mường về đây làm dâu và bà Giàng Thị Mỷ, người dân tộc Mông cũng ra vẫy chào mà không cầm được nước mắt. Cái kiểu người chắc nịch, dáng đi lầm lũi như con thú rừng ấy đã cứu sống không biết bao nhiêu sinh mạng. Các chị là một trong số rất nhiều người được thầy thuốc Hoàng Văn Chỉ chữa bệnh bằng cây thuốc nam…

Một câu chuyện khác xảy ra với cụ già bị ốm nặng nằm liệt giường, người nhà bảo: “Thầy cúng kỹ lắm rồi, khó mà qua khỏi. Mình mất mấy con gà lại thêm cái đầu lợn nữa đấy”. Đội trưởng Hoàng Văn Chỉ biết đó là hủ tục. Anh trực tiếp đến tận nơi xem và bắt mạch, sau đó cắt cho mấy thang thuốc nam uống vài hôm thì khỏi. Điều mà anh băn khoăn, trăn trở nhất là làm thế nào để bà con có nhận thức đúng, khi bị ốm đau không tin vào những lời tuyên truyền nhảm của kẻ xấu. Mỗi lần chữa bệnh anh đều mời trưởng, phó thôn bản đến để giải thích, hướng dẫn cách nhận biết và điều trị một số bệnh thông thường để bà con về tự truyền thụ cho nhau.

Còn nhớ, lần đầu tiên tôi cùng anh Hoàng Văn Chỉ đến Xuân Nha là cuối năm 2007. Chiều miền núi xuống nhanh bất chợt. Đường vào xã mới mở, nhiều đoạn đang nổ mìn phá đá dở dang để hạ độ cao từ đỉnh núi xuống thấp hơn khoảng 15-20m theo chiều thẳng đứng. Đoạn đường hơn 60km nhưng anh dừng lại nhiều lần và chỉ cho tôi vị trí những lần anh gặp người bị đá lăn, ngã xe gãy chân, ốm dọc đường đã được anh cứu chữa. Đến đoạn đường vừa bị mưa sạt xuống cả tảng thì trời tối. Dùng đèn xe rọi vào mà thấy rợn người. Đoạn đường ấy giờ đang nằm im dưới vực sâu hàng chục mét. Anh nói:

- Bám chặt vào, nhìn kỹ đi, nó sẽ liên quan đến câu chuyện mình sẽ kể. Chữa bệnh ấy mà.

Anh trấn an một cách rất khéo như vậy. Tôi thấy lạ, hỏi thêm:

- Tại sao thế, đường có độc à?

- Không, làm gì có độc. Đường nguy hiểm nên nhiều người ngã thôi. Mình cũng ngã, đầu đập vào đá rồi đấy.

- Gian nan quá nhỉ! Anh giỏi thế chắc chẳng phải lo đến tính mạng của mình?

Tôi nói để động viên anh chắc thêm tay lái. Khuôn mặt thừa bản lĩnh ấy nên tôi cũng khá yên tâm với 40km đường còn lại. Song anh vốn là con người cẩn thận, nói như đồng đội là “chu - cụ - tỉ”, anh cười: “Nghĩa là chu đáo, cụ thể và tỉ mỉ ấy mà, không thế làm sao sống được ở đây”. Anh dừng xe, mở cặp số, bên trong toàn đồ nghề sửa chữa gồm: tuốc-nơ-vít, cờ lê, nhựa vá săm, dây vải và các mảnh tre vót nhẵn có độ dài khác nhau để gặp người gãy chân, gãy tay bị ngã dọc đường là có cái nẹp luôn. Anh lấy 4 chiếc xích xe đạp, cuốn thành vòng tròn lên hai bánh xe máy. Làm như vậy để đá khỏi “chém” vào lốp, không sợ nổ và tăng độ ma sát bám lên mặt đường những chỗ trơn, lầy. Đó là sự đúc rút kinh nghiệm của bản thân từ năm 2002. Và anh bắt đầu kể:

“Hôm ấy, mình vào bản chữa bệnh cho bà con. Đến đoạn này, chiếc xe máy chồm lên rồi lao phăm phăm xuống đoạn đường đầy đá hộc. Bỗng nhiên bánh trước bị nổ lốp lao đầu vào đá, xe đổ ngang rồi chèn lên người. Gót chân mình bị đá cắt rách toác, máu chảy lênh láng, đỏ một vũng đất”.

- Anh ngủ lại rừng đêm ấy?

- Làm sao thế được. Không có ai để nhờ, mà cũng thật may là mình biết thuốc nam nên cố lết vào rừng tìm nó, ngắt một ít đắp vào. Vết cắt sâu đến tận xương. Sợ quá nhưng không ghê vì ngày còn ở quê mình đã chữa cho nhiều người rồi. Hơn tháng sau thì mình đi lại được bình thường.

- Thế còn chỗ nào nguy hiểm thế nữa không?

- Đường vào bản Sa Lai, Bun Lay hay A Lăng cũng đều giống nhau. Nghĩa là nó chạy tròn hết từng chỏm núi thì “cắm” xuống chân, đoạn nào hiểm trở, dựng đứng thì “đâm” thẳng vào triền đá bám sát mép núi nhô ra. Đứng từ xa quan sát, đường loằn ngoằn như sợi chỉ đỏ thêu vội trên chiếc khăn Piêu. Con ngựa thồ hàng cũng phải đứng lại hí lên mấy tiếng rồi mới đủ can đảm đi qua.

- Ngoài hôm ngã xe, còn lần nào để lại trong anh những kỷ niệm đáng nhớ nơi vùng cao này không?

- Nhiều, rất nhiều. Khó nhất là đoạn tiếp giáp với xã Vân Hồ. Từ đó vào chưa đầy trăm cây số nhưng nếu mùa khô đi xe máy giỏi như người Mông cũng phải hết ngày sang đêm. Còn nếu mùa mưa, người trong bản ai cũng tự đem theo vài ba đôi xích xe đạp để cuốn vào lốp, cùng với nó là một bộ đồ nghề sửa xe, nếu không chắc chắn đêm phải ngủ lại rừng. Nhiều đoạn bùn ngập nửa bánh xe, đến mùa hanh nó khô lại thành bột. Đã có nhiều người bị ngã, trượt dốc gãy cả chân. Vào xã Tân Xuân còn khó hơn nhiều, đây là xã biên giới, 100% đồng bào dân tộc Mông sinh sống, trình độ dân trí quá thấp, xã chưa có trạm y tế nên việc khám chữa bệnh cho bà con vô cùng khó khăn. Người ốm nặng, đưa ra bệnh viện huyện chắc không kịp.

Hoàng Văn Chỉ là người dân tộc Dao quê gốc Tuyên Quang. Nơi anh sống là một bản vùng cao. Người Dao rất giỏi trong nghề thuốc, tiêu biểu nhất phải kể đến bài thuốc tắm lá gia truyền đã được nhà nước cấp giấy phép lưu hành. Khách du lịch nước ngoài thường tìm đến Sa Pa (Lào Cai) hay Yên Sơn (Tuyên Quang) để ngâm mình trong nồi nước tắm gồm hàng trăm loại lá cây rừng khác nhau. Bài thuốc có tác dụng rất tốt và cùng lúc chữa được nhiều bệnh. Nghề thuốc gia truyền của gia đình anh đã tồn tại hàng trăm năm.

Khi còn nhỏ, anh thường theo ông vào rừng tìm thuốc, niềm đam mê và lòng đức độ đã giúp anh trở thành một thầy thuốc giỏi. Anh nhớ, ngày mới nhập ngũ, đơn vị đóng quân trong rừng sâu, anh đã chữa giúp đồng đội và bà con thôn bản khỏi cơn sốt rét rừng và nhiều bệnh khác bằng cây thuốc nam.

Ngoài những bài thuốc gia truyền, anh còn đọc và nghiên cứu tài liệu về nhiều cây thuốc quý. Vốn kiến thức ấy đã giúp anh có thể sơ cứu và chữa được một số bệnh quan trọng. Từ khi vào Xuân Nha (năm 2002), trên cương vị đội trưởng, sáu năm tranh thủ thời gian nhàn rỗi, anh cùng đơn vị chữa cho hàng chục người qua cơn nguy kịch. Không kể đêm mưa giá rét hay ngày nắng cháy vai, nơi nào có người ốm, người bệnh là anh có mặt. Anh đến bằng lương tâm, trách nhiệm và lòng yêu nghề. Đôi chân trần ấy đã đạp trên muôn dặm đá núi gập ghềnh, hiểm nguy. 

HOÀNG NGHIỆP

Các tin, bài viết khác