Sau khi được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ thành lập đơn vị vận chuyển và mở đường xuyên Trường Sơn để chi viện cho chiến trường miền Nam, Thượng tá Võ Bẩm đã trực tiếp bí mật tuyển dụng 500 chiến sĩ bộ đội gốc miền Nam đang tập kết ra Bắc để thành lập Tiểu đoàn 301, tiểu đoàn đầu tiên trực thuộc Đoàn 559. Sứ mạng đầu tiên của Tiểu đoàn 301 là câu chuyện được Đại tá Nguyễn Danh, nguyên Chính trị viên đầu tiên của Tiểu đoàn 301, sau này là Chính ủy E70 rồi Chính ủy Cục Hậu cần Đoàn 559, kể lại với PV Báo SGGP.
Cải trang gùi “hàng”
Sau khi hình thành bộ khung lãnh đạo, tổ chức các ban tham mưu, chính trị, hậu cần và 12 trạm (đại đội), Ban chỉ huy Tiểu đoàn 301 họp phiên đầu tiên quán triệt toàn bộ mệnh lệnh hành quân. Đến ngày 9-6-1959, đơn vị thực hiện “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Trừ những người có việc phải ra ngoài, còn lại tất cả ở trong doanh trại, không được giao tiếp với bất kỳ người nào, kể cả vợ con.
Chiều 10-6-1959, chiếc xe Jeep chở đồng chí Võ Bẩm đến doanh trại. 8 giờ sáng 11-6, đồng chí Võ Bẩm đứng trước toàn đơn vị, tuyên bố: “Hôm nay, tôi thay mặt Đoàn 559 và Bộ Tổng Tư lệnh truyền đạt mệnh lệnh hành quân...”. Đồng chí nhấn mạnh lời dặn dò của Bác: “Bí mật, bí mật, bí mật. Sống để dạ, chết mang theo… Khi nước nhà thống nhất, nếu ai còn sống sót thì làm thơ, viết sách nói lại, kể lại cho mọi người biết, cho con cháu đời sau thấy rõ, để tự hào về đất nước, cha ông…”.
Đúng 9 giờ ngày 12-6, cả đơn vị lên đường hành quân. Ngày 18-6 đến Thuận Lý, Quảng Bình. Sau một đêm nghỉ lại, tối hôm sau, đoàn tiếp tục hành quân nhưng Đại đội 12 tách đoàn đi ngược lêên miền núi Quảng Bình để lập kho tàng, bệnh xá, tạo hậu cứ cho đoàn. Số còn lại hành quân lên khe Hó thuộc huyện Vĩnh Linh – là nơi dừng chân, điểm đóng quân đầu tiên của đoàn để “soi đường vượt tuyến” (vượt sông Bến Hải).
Để xóa mọi dấu vết, cán bộ chiến sĩ Tiểu đoàn 301 đã chia nhau lên rừng tìm mây rồi tự đan mỗi người một chiếc gùi đi rừng. Khi đi đường, đoàn chỉ được mang quần áo lót, khăn mặt, tăng, võng, ni lông. Tất cả trang phục còn lại đều được giặt sạch, ghi tên, đơn vị rồi… giao nộp vào kho.
Tôi có nhiệm vụ đến Vĩnh Linh (Quảng Trị) nhờ may gấp 1.000 bộ áo quần bà ba đen và 600 đôi dép cao su có quai làm bằng ruột, đế làm bằng vỏ ô tô phế thải… Đến Vĩnh Linh, nhờ “giấy giới thiệu đặc biệt” và sự giúp đỡ nhiệt tình của anh Hồ Sĩ Thản, Bí thư Đặc khu ủy Vĩnh Linh, công việc tiến hành thuận lợi. Sau 3 ngày, anh em chúng tôi đã có đủ trang phục dân chính, hoàn toàn xóa dấu vết bộ đội chính quy.
Đã vào mùa mưa, lũ từ đất Lào đổ xuống không cho phép bộ đội băng qua đất bạn. Lượng mưa ở rừng đạt mức 300 - 400mm/ngày, đã tạo lưu tốc lũ tăng 4m - 6m/giây. Các dòng suối đột ngột phình rộng thành lũ dữ, chia cắt núi rừng Trường Sơn vốn đã bị quá nhiều chia cắt. Vì thế có những lúc chúng tôi phải vượt Đường 9 vì nơi đây khá khô ráo, bằng phẳng.
Nếu như vượt Đường 9 vào ban đêm, những người lính của Tiểu đoàn 301 im lặng đi sát chân đồn Rào Quán của địch từ phía Đông Khe Sanh. Có nhóm lợi dụng cống thoát nước Rào Quán có đường kính 1,2m để bò ngang qua đường. Nếu đi số lượng đông, phải dùng ni lông nối thành tấm rộng 4m, dài 10m trải ngang qua đường. Mỗi khi qua xong, trinh sát đi sau cùng sẽ cuốn ni lông lại và mặt đường sẽ không còn dấu chân người.
Những ngày đầu tiên, Tiểu đoàn 301 tổ chức vận chuyển hàng cho các trạm theo kiểu “sâu đo”, tức là hàng từ trạm gần nhận rồi chuyển dần vào các trạm xa hơn ở phía trong. Được cấp trên bổ sung cho 3 trung đội trinh sát bảo vệ của Đoàn 341, chúng tôi thành lập Đại đội 10 có nhiệm vụ trinh sát và bảo vệ các trạm.
Số anh em này thông thuộc địa hình Tây Quảng Trị nên đã làm rất tốt nhiệm vụ trinh sát mở đường. Cùng với một số cán bộ nằm vùng trong dân xây dựng lực lượng, đã tạo thành mạng lưới bảo vệ đường vận chuyển từ xa…
Trường Sơn lúc ấy, nơi nào cũng hoang vu, khó khăn, hiểm trở, đầy thú dữ. Chúng tôi phổ biến kinh nghiệm cho anh em khi ngủ, bên trên võng buộc phải có tấm tăng ni lông trải lên, cọp sẽ sợ mà không dám vồ ẩu. Anh em kể lại, có lần đi qua bãi đất trống, đụng một bầy heo rừng 7, 8 con chạy nháo nhào, có con đâm sầm vào chân một chiến sĩ. Anh em nhanh tay túm được chân rồi dùng dao găm hạ gục...
Tuy nhiên, ngay lúc đó, một con cọp xộc đến và ngỡ ngàng khi biết con mồi đã bị giật. Trên đường anh em khiêng heo về trạm, con cọp cứ lẽo đẽo theo sau. Đến khi có người có “sáng kiến” chặt cho nó một cái đùi quăng lại bên vệ đường mòn, nó mới thôi không quấy rầy.
“Hàng” gồm những gì?
Sáu ngày đầu gùi hàng, Tiểu đoàn 301 có nhiệm vụ vận chuyển đến các trạm gồm gạo, muối và mỡ heo. Con đường đi hàng ngày rất dài, có ngày anh em phải đi 30 km và cứ 120 phút thì được nghỉ 15 - 20 phút. Trên suốt dọc đường đi, bữa ăn thường là cơm nắm với mắm ruốc. Mỗi khi đến nơi, anh em tự nấu cơm bằng lon gô với tiêu chuẩn mỗi ngày 2 chén gạo.
Để cho có chất rau xanh, chúng tôi thường phân công anh em đi hái lá rừng nấu canh chua, luộc để ăn kèm với cơm. Còn ban đêm, mỗi khi trời lạnh, phải gom lá rừng lại làm đệm rồi trải bạt lên ngủ cho ấm. Thế nhưng đáng sợ hơn là muỗi, vắt, bò cạp, rắn…
Trong quãng thời gian này, chúng tôi khi đi ngang đoạn Chăng Hin - Voi Mẹp, có người đã bị kiệt sức. Một người thuộc Tiểu đoàn 301 đã có sáng kiến chặt cây le đực làm gậy chống cho đỡ mỏi chân khi leo dốc và khỏi trượt chân khi xuống dốc. Riêng lúc tạm nghỉ, cây gậy là vật chống đỡ chiếc gùi phía sau lưng. Và lúc lội qua suối, cây gậy còn có tác dụng dò nước chỗ nông - sâu, dùng để đuổi rắn rết khi xuyên rừng rậm.
Thấy có lợi ích, Trung úy Nguyễn Cửu (trạm 4) cho đơn vị chặt le làm gậy leo núi và phát đại trà, gọi là “cây gậy hành quân” (sau này khi trai làng Hòa Xá, Hà Tây xung phong vào Nam đánh giặc, dân làng đã tặng cho mỗi “bộ đội làng” một cây gậy để hành quân, đấy chính là xuất xứ của bài hát “Chiếc gậy Trường Sơn” mà nhạc sĩ Phạm Tuyên đã sáng tác vào năm 1967)…
Lương thực vận chuyển xong, bộ đội ta bắt đầu vận chuyển vũ khí từ trạm đầu tiên vào trạm cuối. Mỗi ngày, Tiểu đoàn 301 phải đưa 18 gùi hàng từ trạm 1 vào trạm 2, trong đó có 15 gùi được gói kín, bên ngoài chỉ ghi mật hiệu “Chị Thể”, “Anh Tụ”, “Bác Hòa”, “Chú Loan”… Những ký hiệu này, chỉ có lãnh đạo Đoàn 559 biết, còn ở Tiểu đoàn 301 thì tuyệt đối bí mật. Mãi cho đến khi vào đến A Lưới (Huế), chúng tôi mới biết đã chuyển giao lô vũ khí đầu tiên…
Chuyến hàng đầu tiên được vận chuyển thắng lợi đã tạo không khí phấn khởi thi đua “Tất cả vì miền Nam ruột thịt, chấp nhận hy sinh” trong toàn đơn vị. Anh em thi đua mang vác, có nhiều người luôn mang trên vai 50 - 60 kg như Phan Mùi, Thi Huỳnh ở trạm 4, Nguyễn Sơn ở trạm 6… Riêng Trần Mẹo ở trạm 4, tuy chỉ cao 1,45m, nặng 39 kg, nhưng quyết gùi 50kg hàng…
Tổng kết sau 17 tháng vận chuyển bằng “chân đồng vai sắt”, Tiểu đoàn 301 đã chuyển 355,5 tấn vũ khí và 71,10 tấn quân dụng vào chiến trường. Tính trung bình mỗi ngày, họ đã mang vác 900 kg vũ khí…
Từ 500 cán bộ chiến sĩ buổi sơ khai, sau đó Tiểu đoàn 301 đã được xóa phiên hiệu để làm nòng cốt thành lập Trung đoàn 70, Trung đoàn 71. Đến năm 1961, các trung đoàn trên lại giải thể để thành lập lữ đoàn. Sau này, dù các phiên hiệu trong thời kỳ sơ khai con đường Trường Sơn không còn nữa song đó là những đơn vị đầu tiên của Đoàn 559 - Binh đoàn Trường Sơn huyền thoại
Đại tá NGUYỄN DANH kể - MINH ANH ghi
Thông tin liên quan |
| Bài 1: Đoàn công tác quân sự đặc biệt |