Những ngày cuối tháng tư, TPHCM đã bắt đầu có những cơn mưa đầu mùa và Thượng tướng Phan Trung Kiên, UV BCH Trung ương Đảng, Anh hùng Lực lượng Vũ trang, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, lại nhớ những cơn mưa năm cũ khi ông chỉ huy đánh những trận đánh mở cửa ngõ phía Tây cho đại quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn.
Năm 1969, Thượng úy Phan Trung Kiên là Huyện ủy viên huyện Hóc Môn và là một trong những Huyện đội phó trẻ nhất khi ấy. Năm 1974, anh Ba Kiên được cử đi học tại trường quân chính Miền (H.14), đặt tại Cầu Trắng, Bù Đốp (tỉnh Phước Long). Từ đầu tháng 4-1975, không khí trong trường H.14 rất “lạ”. Nhiều cán bộ cấp cao vào trường họp hội với vẻ tất bật và chàng thượng úy trẻ tự dưng cũng cảm thấy nôn nao trong lòng.
Ngày 26-4-1975
Thượng tướng Phan Trung Kiên trò chuyện với các thiếu sinh quân ở Củ Chi, TPHCM. Ảnh: T.L
Thượng úy Phan Trung Kiên (Ba Kiên) và nhóm học viên khối quân sự được lệnh ra trường sớm để về các đơn vị bổ sung quân số để chuẩn bị cho một chiến dịch lớn sắp diễn ra.
Sáng 26-4-1975, tại căn cứ Rừng Làng, xã An Nhơn tây quận Củ Chi (tỉnh Hậu Nghĩa) Thượng úy Phan Trung Kiên nhận chức vụ Tiểu đoàn phó I của Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Gia Định.
14 giờ ngày 26-4, Tiểu đoàn phó Phan Trung Kiên sang trình diện Trung đoàn trưởng Trung đoàn Gia Định - Nguyễn Văn Ga (Bảy Ga).
Trung đoàn trưởng Bảy Ga nhìn từ đầu đến chân cậu thượng úy trẻ măng một lúc rồi hỏi: “Chú có biết đường đi từ Đức Hòa qua Vĩnh Lộc vào sân bay Tân Sơn Nhất không?”. “Báo cáo thủ trưởng, tôi chưa đi tuyến đường ấy bao giờ, nhưng tôi tin cứ nhắm hướng đi sẽ tới”.
Khi nghe anh Bảy Ga giao nhiệm vụ mở đường theo hướng trên vào đánh sân bay Tân Sơn Nhất, Ba Kiên rất phấn khởi nhưng nỗi lo của người chỉ huy trong anh đó là - mang quân đi qua Vĩnh Lộc (cửa ngõ Sài Gòn trước khi vào sân bay Tân Sơn Nhất) mà không rành đường ngang ngõ tắt, quân số địch ở đó lại đông với nhiều lực lượng: Lữ 81 Dù, Liên đoàn 7 và 8 biệt động quân và cả địa phương quân đông gấp nhiều lần quân số anh đang có; đối đầu với địch mà lực lượng không tương quan như thế sẽ đổ máu không ít.
Anh Bảy Ga đồng ý và giao Phan Trung Kiên làm Tiểu đoàn trưởng. Tiểu đoàn 2 để thực hiện mệnh lệnh “Đánh chiếm xã Xuân Thới Thượng, Xuân Thới Sơn sau đó sẽ chốt chặn tại khu vực Cầu Lớn (ngã ba Giồng) ngăn địch từ Sài Gòn rút ra hay Hậu Nghĩa đánh vào, thời hạn 1 ngày”.
Tiểu đoàn 2 có một ngày (27-4) để sắp xếp đội hình và tiếp nhận cho đủ 300 quân.
Ngày 28-4 -1975
Chiều xuống thấp. Đội trinh sát đi cùng với anh Ba Kiên và Tiểu đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 2 là Phạm văn Son (Ba Son) vượt lộ 9 vào ém quân ở đồng bưng Mỹ Hạnh giữa đường 9 và đường 10 để chờ các cánh quân của Tiểu đoàn 2 di chuyển đến vị trí đã định.
Ba Son móc túi kiểm tiền thấy còn 2.500 đồng, nói với Ba Kiên: “Thủ trưởng, mình liên hoan thưởng quân nghe. Mai, ai còn ai mất chưa biết nữa…”. Thế là cà phê sữa đá, thuốc lá RuBi, mì gói do hai du lích mua lén từ trong xóm được mở ra liên hoan tại “bộ chỉ huy tiền phương của Tiểu đoàn 2” giữa đồng bưng đầy tiếng ì oạp của ễnh ương.
Trong lòng Ba Kiên nôn nao khó tả, anh linh cảm như chiến thắng đang đến thật gần. Thao thức cả đêm, Ba Kiên và Ba Son tính toán chi li từng mũi tiến công cho trận đánh ngày mai: Đại đội 1 do Đại đội trưởng Nguyễn Anh Nhiễn chịu trách nhiệm tập kích lực lượng biệt động quân, kềm chân không cho lực lượng này hỗ trợ quân ở phân chi khu (PCK) Xuân Thới Thượng. Lý Văn Luân chỉ huy Đại đội 2 sẽ tập kích đánh chiếm Xuân Thới Thượng. Đại đội 3 do Nguyễn Văn Ngởi chỉ huy sẽ đón lõng ở góc đường tiếp giáp giữa PCK Xuân Thới Thượng và đồn Nhà Tô (ở ngã Ba Giòng) để thực hiện lệnh ứng chiến từ Tiểu đoàn trưởng Ba Kiên.
Tối 28-4, trời mưa như trút nước. Các cánh quân Tiểu đoàn 2 vẫn hối hả chuyển quân. Mờ sáng. Cơn mưa vừa dứt hạt, cả 3 cánh quân đã vào vị trí chiến đấu đúng như dự định. Do mưa, đất bốc hơi khiến chó không đánh hơi được nên quân ta áp sát hàng rào PCK Xuân Thới Thượng vẫn không bị lộ.
Ngày 29-4-1975
4 giờ sáng, lệnh tấn công được Thượng úy Phan Trung Kiên ban ra. Các ụ chiến đấu của địch quá bất ngờ khi thấy quân ta xuất hiện sát hàng rào nên chỉ bắn trả yếu ớt. 40 phút sau quân ta chiếm Xuân Thới Thượng.
Bàng hoàng với thông tin Xuân Thới Thượng bị quân Giải phóng chiếm chỉ trong 40 phút, lính Biệt động chốt ở ngã ba Giồng bị đại đội 1 do anh Nhiễn chỉ huy đã tan rã hàng ngũ, rùng rùng bỏ chạy sang đồn Nhà Tô cố thủ. Các cánh quân siết chặt vòng vây và binh vận gọi hàng.
Đến 14 giờ, quân ta đánh chiếm đồn Nhà Tô. Trong lúc dừng quân, Ba Kiên nhận tin từ Trung đoàn báo xuống - các đơn vị lính trong đồn Nhà Tô đang xin lệnh rút chạy.
“Mở đường cho địch thoát ra khỏi đồn về hướng Củ Chi”, Ba Kiên lệnh thế. Bởi nếu không có đường thoát, địch trụ lại đồn và trong thế cùng đường sẽ chống trả quyết liệt, thương vong cho cả hai bên sẽ không tránh khỏi.
16 giờ ngày 29-4, quân ta chiếm đồn Nhà Tô, Xuân Thới Thượng và Xuân Thới Sơn; hoàn thành nhiệm vụ được giao sớm hơn dự kiến. Tiểu đoàn 2 dừng quân giữa cánh đồng bưng nghỉ ngơi để chuẩn bị cho nhiệm vụ tiếp theo.
Tối 29-4, lại một cơn mưa thật to ập đến. Lại cũng nhờ mưa to nên Tiểu đoàn 2 dừng quân nghỉ ngơi gần bên mà Chiến đoàn 46 không phát hiện được.
30-4-1975
Mờ sáng, trinh sát trở về báo cáo - Chiến đoàn 46 có khoảng 2.000 quân. Ba Kiên thừ người suy nghĩ. Anh ước tính tất cả mọi mất mát sẽ có giữa những người Việt Nam ở cả hai chiến tuyến nếu súng phải nổ, nhất là khi lực lượng hai bên chênh lệch nhau quá nhiều.
Đang suy nghĩ cách vận động địch đầu hàng để tránh nguy cơ đổ máu cho cả hai bên thì quân ta bắt sống được một trung úy của tỉnh Hậu Nghĩa. Qua trò chuyện với tù binh trẻ, biết được sự lo lắng trong hàng ngũ địch quân và tinh thần họ đang rất dao động, Ba Kiên quyết định tung ra một kế hoạch lớn để chiến thắng mà không đổ máu.
Ba Kiên cho gọi viên trung úy và nói: “Anh sẽ được khoan hồng, nếu anh lập được công, cách mạng sẽ khen thưởng. Anh dùng máy này (Ba Kiên chỉ vào máy truyền tin PRC 25) để gọi Chiến đoàn 46 cho tôi”.
Trung úy tù binh lắp bắp: “Thưa ông tôi không có số máy của Chiến đoàn 46. Tôi có số máy ngài Tỉnh trưởng Hậu Nghĩa nhưng không biết bây giờ gọi có được không”. “Anh cứ cố gắng gọi”. Viên trung úy tù binh cố gắng gọi rất nhiều lần, cuối cùng Tỉnh trưởng Tôn Thất Soạn bắt máy.
Nói chuyện vài câu, viên trung úy kia quay sang Ba Kiên: “Thưa ông, Tỉnh trưởng hỏi - Ra hàng chúng tôi có bị giết không?”, Ba Kiên bảo viên trung úy nói lại với ông ta: “Tù binh Mỹ tội ác tày đình, cách mạng còn tha về sum họp gia đình. Chúng ta cùng là người Việt Nam, giết các anh để làm gì? Được gì? Nói họ ra hàng để còn về sum họp gia đình” .
Viên Trung úy kia truyền đạt lại và Tỉnh trưởng Hậu Nghĩa xin “30 phút để suy nghĩ”. Ba Kiên cầm máy nói: “Chúng tôi không có thời gian, các anh có 5 phút để suy nghĩ”. 3 phút sau, viên Tỉnh trưởng Hậu Nghĩa gọi lại: “Thưa ông, chúng tôi chấp hành…”.
9 giờ sáng 30-4-1975, cuộc trao đổi gọi hàng của Ba Kiên với Tỉnh trưởng Hậu Nghĩa đã thành công. 1.860 quân của Chiến đoàn 46 kéo cờ trắng đi thành 3 hàng dọc ra hàng. Vũ khí nặng, nhẹ chất thành 3 đống cao ngang đầu người.
Viên đại tá Tỉnh trưởng Hậu Nghĩa tóc đã hoa râm đã nhìn sững người chỉ huy mặt trận trẻ măng khi được dẫn đến trình diện với Ba Kiên. Tiểu đoàn 2 chiến thắng Chiến đoàn 46 trong trận đánh cân não, không một giọt máu đổ và 1.860 người lính của Chiến đoàn 46 kia đã may mắn được an toàn trở về đoàn tụ với gia đình.
Tiểu đoàn 2 của Ba Kiên đã hoàn thành nhiệm vụ mở tung cánh cửa phía Tây của Sài Gòn mở đường cho đoàn chiến xa T54 và Binh đoàn 232 tiến về giải phóng Sài Gòn.
Phạm Thục ghi