Việc ông đoạt giải thưởng Cosmos danh giá đã được CLB các nhà báo KH-CN bình chọn là 1 trong 10 sự kiện KH-CN Việt Nam nổi bật trong năm 2008. Nhìn vóc người nhỏ bé của ông, ít ai nghĩ đến việc ông đã từng rong ruổi đi – về trên chiếc xe đạp hàng ngàn kilômét suốt dải bờ biển từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh để nghiên cứu về những cánh rừng ngập mặn.
Hơn 40 năm miệt mài nghiên cứu, ông đã công bố gần 100 công trình khoa học về rừng ngập mặn bằng tiếng Anh và 2 lần bảo vệ luận án tiến sĩ. Đó là GS-TSKH, Nhà giáo nhân dân Phan Nguyên Hồng...
Hành trình niềm đam mê khoa học
Giáo sư Phan Nguyên Hồng thăm một vườn ươm các loại cây ngập mặn ở Cần Giờ (TPHCM).
Trong căn nhà nhỏ, nằm ở một con hẻm sâu trên đường Nguyễn Khuyến (Hà Nội), với giọng nói vang rõ âm điệu người miền Trung, ông kể tôi nghe cái “duyên” đến với việc nghiên cứu rừng ngập mặn.
Với ông cái duyên đó thật tình cờ, như số phận đã sắp đặt. Để rồi khi những công trình nghiên cứu về rừng ngập mặn của ông được công bố trên thế giới, giá trị của hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam được quốc tế thừa nhận, ông như được sống lại với những ước mơ cháy bỏng thời sinh viên trai trẻ.
Giờ thì mọi chuyện có vẻ như dễ hiểu, rõ ràng, lên mạng Internet tra cứu là có khá đầy đủ thông tin. Nhưng với ông, để đến được những thành công hôm nay, đó là cả một hành trình dài của sự vất vả, kiên trì và cháy bỏng niềm đam mê khoa học...
Giáo sư Phan Nguyên Hồng sinh năm 1935 ở xã Đức Vinh, huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh). Là người học chuyên ngành sinh học ở đại học, năm 1956 ra trường rồi giảng dạy về thực vật học, sau đó là sinh thái học ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và ông đến với hệ sinh thái rừng ngập mặn một cách ngẫu nhiên. Đó là năm 1964, tỉnh Quảng Ninh nhờ Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, nơi ông đang giảng dạy xây dựng quy hoạch phân vùng tự nhiên và kinh tế của tỉnh.
Được cử về Quảng Ninh công tác, ông đã phát hiện rừng ngập mặn vùng ven biển mà thời đó người ta gọi là “bãi sú vẹt” có rất nhiều điểm đặc biệt về mặt sinh thái học và trước đó ít được đề cập tại Việt Nam.
Thấy ông say mê với rừng ngập mặn, trường và khoa Sinh đã tạo điều kiện cho ông đi thực địa. Sau năm 1964, do máy bay Mỹ đánh phá miền Bắc ác liệt, Trường ĐH Sư phạm sơ tán lên Đại Từ (Thái Nguyên). Ở trên đó, xa vùng biển nhưng ông vẫn quyết tâm theo đuổi việc nghiên cứu rừng ngập mặn.
Tranh thủ dạy và được nhà trường cho phép, nửa tháng, hoặc 3 tuần là ông lại lên chiếc xe đạp rong ruổi về vùng biển Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình. Sau đó lại đi xa hơn, vào Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Tất cả đều bằng xe đạp.
Ông kể lại: “Suốt từ 1964 cho đến hết năm 1979 tôi cứ đi - về như vậy. Tài liệu hầu như không có gì. Mình phải đi thực tế và tự nghiên cứu lấy. Sau này khi giở lại hành trình, có lúc tôi giật mình bởi tính sơ sơ, mình đã đạp xe gần 6.000 km để nghiên cứu về rừng ngập mặn...”. |
Kể về những ngày tháng khó khăn đó, Giáo sư Hồng nói: “Hồi ấy nghiên cứu khoa học chỉ bằng niềm say mê chứ không có tiền như bây giờ. Tôi lao vào công việc vì nghĩ rằng, những người lính ngoài mặt trận đã chịu bao gian khổ, hy sinh, còn mình ở hậu phương thì những khó khăn đó chỉ là chuyện nhỏ”.
Ngay từ khi bắt tay vào nghiên cứu, ông đã thấy rừng ngập mặn có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống con người ven biển. Dựa vào rừng ngập mặn có thể thu bắt hải sản như cá, tôm, cua, nghêu, sò... Ngoài ra, hệ thống rừng ngập mặn ven biển còn là bức tường thành vững chắc để bảo vệ đê, kè biển chống xói lở do bão, triều cường gây ra.
Với sự động viên, trợ giúp của một số đồng nghiệp, ông đã âm thầm làm việc, và từng bước bắt tay soạn chuyên đề cho môn học này. “Khi ấy, tôi không có một tài liệu nào liên quan đến rừng ngập mặn. Nguồn tài liệu của Liên Xô, Trung Quốc rồi cả Pháp cũng không. Tất cả đều tự mày mò” – Giáo sư kể.
Năm 1968 được sự động viên của nhà trường và một số chuyên gia Liên Xô, ông đã tự viết luận án bảo vệ phó tiến sĩ (bây giờ là tiến sĩ) mà không có ai hướng dẫn về đề tài rừng ngập mặn. Cuối năm 1969 ông hoàn tất và tháng 4-1970 ông là 1 trong 3 nhà khoa học Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ trong nước!
Đến năm 1991, không có người hướng dẫn, nhưng nhờ chủ trì 4 đề tài cấp Nhà nước có kết quả tốt, ông cũng tự hoàn thành công trình “Sinh thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam” để bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khoa học trước Hội đồng khoa học Nhà nước. Đây cũng là luận án TSKH chuyên ngành Sinh học đầu tiên được bảo vệ trong nước.
Một điều đáng nể nữa là vào những năm 1980 ông quyết tâm học tiếng Anh; đến năm 1993 ông đã hoàn thành cuốn “Rừng ngập mặn Việt Nam” bằng tiếng Anh và được Tổ chức IUCN xuất bản ở Thái Lan và Thụy Sĩ.
“Không có tiếng Anh không thể mở rộng nghiên cứu ra quốc tế được. Tôi không được đi học nước ngoài, việc nghiên cứu rừng ngập mặn cũng tự mày mò, việc học tiếng Anh cũng vậy. Phải cố gắng, tự thân vận động để khẳng định mình, khẳng định những kết quả nghiên cứu về giá trị rừng ngập mặn Việt Nam với thế giới - Giáo sư Hồng tâm sự.
Từ “bần, đước, sú, vẹt...” đến giải thưởng Cosmos
Giáo sư Hồng cho biết, từ năm 1980 ông được giao chủ trì những đề tài cấp Nhà nước và tiến hành hướng dẫn nghiên cứu sinh về hệ sinh thái rừng ngập mặn. Đề tài hướng dẫn nghiên cứu sinh đầu tiên của ông là “Nghiên cứu năng suất sinh học loài đước”. Đề tài này do nghiên cứu sinh Nguyễn Hoàng Trí thực hiện từ 1979 đến 1983 thì hoàn thành và đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu sâu về cây đước ở Việt Nam.
Cũng thời điểm đó, ông được giao chủ nhiệm các đề tài cấp Nhà nước nghiên cứu về hệ sinh thái rừng ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long và hậu quả chất độc hóa học trong vùng rừng ngập mặn.
Từ khi được thành lập (1993) đến nay, mỗi năm Quỹ Expo’90 chỉ tặng 1 giải thưởng Cosmos cho những tổ chức và cá nhân đạt thành tựu xuất sắc và có những đóng góp quan trọng cho khoa học về sự sống, sự phụ thuộc giữa các sinh vật với môi trường toàn cầu và sự hài hòa giữa thiên nhiên với con người. Giáo sư Phan Nguyên Hồng là người Việt Nam đầu tiên đoạt giải thưởng này. |
Trong câu chuyện của mình, ông luôn nói về những người nông dân ven biển, những nơi ông đã qua, từng nghiên cứu. Đi đến đâu, đoàn nghiên cứu cũng được bà con nông dân ủng hộ cả về vật chất và tinh thần.
“Có khi chúng tôi ở cùng họ cả tháng trời mà không phải lo chuyện tiền nong, cái đó quý lắm. Vì vậy, chúng tôi nỗ lực tổng kết các nghiên cứu, sau đó in thành sách tuyên truyền phát cho người dân, tổ chức tập huấn, triển lãm lưu động về lợi ích của rừng ngập mặn như một lời tri ân…” - Giáo sư kể lại.
Trước câu hỏi điều gì giáo sư tâm đắc nhất sau hơn 40 năm nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam, trầm tư hồi lâu, Giáo sư Hồng nói: “Tôi có hai điều tâm đắc. Thứ nhất là tình cảm của người dân đối với tôi cũng như các đồng nghiệp trong quá trình nghiên cứu. Không có sự giúp đỡ của họ thì không có những công trình của chúng tôi. Điều thứ hai khiến tôi luôn trăn trở là làm sao phục hồi được những khu rừng ngập mặn đã mất; làm sao để định lượng những giá trị vô hình của rừng ngập mặn mang lại cho cộng đồng và môi trường, để từ đó mỗi người dân hiểu rõ hơn, có ý thức hơn trong việc bảo vệ, phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn của đất nước”.
Trong quá trình nghiên cứu, Giáo sư Hồng thấy rằng cây bần là loại cây rừng ngập mặn rất phù hợp với vùng ven biển Bắc bộ, nhưng giống cây này rất khó tái sinh do thời tiết miền Bắc khắc nghiệt. Hạt bần khi nảy mầm thường bị vịt, chim hoặc còng cáy ăn, hoặc chết rét nếu có gió mùa Đông Bắc kéo dài. Vì vậy, việc phát triển diện tích rừng bần ven biển rất khó khăn.
Năm 1993, ông và các đồng nghiệp Việt Nam, Nhật Bản đã tiến hành thí nghiệm giữ hạt bần tránh rét, tránh ánh sáng trong khoảng diện tích 10m² trên tầng thượng của ngôi nhà do bố mẹ vợ cho mượn. Họ đã phải xuống tận Hải Phòng, Thái Bình, Quảng Ninh lấy nước lợ đóng vào can nhựa rồi chở về Hà Nội để phục vụ công việc nghiên cứu.
Sau gần 10 tháng làm việc cật lực, nhóm nghiên cứu đã tìm ra phương pháp bảo quản hạt giống bần trong thời gian 6 - 12 tháng với tỷ lệ nảy mầm cao. Nhờ kết quả nghiên cứu này, đến nay, hầu hết các dải rừng bần ven biển Bắc bộ đã lớn, bảo vệ tốt cho hệ thống đê biển, tăng nguồn hải sản và làm thay đổi môi trường ven biển.
Năm 1998, chính Giáo sư Hồng cùng các đồng nghiệp ở Ban nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn (thuộc Trung tâm Nghiên cứu tài nguyên - môi trường) đã tổ chức hội thảo quốc tế, nhờ các chuyên gia giúp đỡ lập hồ sơ để trình lên UNESCO đề nghị công nhận rừng Cần Giờ (TPHCM) là khu sinh quyển trong mạng lưới các khu sinh quyển thế giới. Đến đầu năm 2000, Cần Giờ là khu rừng ngập mặn đầu tiên ở Việt Nam được UNESCO chính thức công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới.
Việc Giáo sư Phan Nguyên Hồng đoạt giải thưởng Cosmos với trị giá 40 triệu yên Nhật (khoảng 6 tỷ đồng Việt Nam) được công bố vào cuối tháng 7-2008 và đến đầu tháng 11-2008 ông được mời qua Osaka (Nhật Bản) để nhận giải thưởng danh giá này.
Ông kể: “Trước đó, một số đoàn nhà khoa học của Nhật sang Việt Nam tìm hiểu về hệ sinh thái rừng ngập mặn và họ có gặp tôi. Sau này, tôi mới biết đó là những người muốn tìm hiểu kết quả nghiên cứu để xét chọn giải thưởng Cosmos quốc tế. Giải thưởng đến với tôi rất bất ngờ vì Việt Nam mình không đề cử mà là do các nhà khoa học nước ngoài giới thiệu. Tôi luôn nghĩ, thành quả này là công sức của cả một tập thể, đặc biệt là Trung tâm Nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn, một mình tôi không thể làm được nhiều như thế...”.
Vĩ thanh
Khi chia tay ông, tôi hỏi “Giáo sư đã có dự định sử dụng số tiền giải thưởng Cosmos vào những việc gì?”. Ông cười đầm ấm và bảo: “Một phần tiền tôi sẽ dành cho Trung tâm Nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn để tiếp tục các công trình nghiên cứu về rừng ngập mặn, một phần để lập quỹ học bổng cho sinh viên nghèo vượt khó của khoa Sinh Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Ngoài ra tôi còn đóng góp vào SympaMeals, một dự án cung cấp bữa ăn miễn phí cho các bệnh nhân mắc bệnh ung thư có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn Hà Nội. Tôi cũng sẽ gửi một số tiền về xã Đức Vinh quê tôi để hỗ trợ địa phương. Số còn lại tôi sẽ dùng vào những việc riêng của mình và gia đình...”.
Hỏi địa chỉ mail, ông cho biết: hongrnm@... “rnm” là “rừng ngập mặn”, mọi người gọi tôi là “Hồng rừng ngập mặn” từ xưa đến nay rồi, lập địa chỉ mail như vậy cho dễ nhớ...
Trần Lưu