Bài 1: Người sáng chế chữ viết Pa Kô - Tà Ôi
(SGGP-12G).- Đường Trường Sơn huyền thoại hình thành cũng là lúc đồng bào dân tộc Pa Kô - Tà Ôi sinh sống trên dãy Trường Sơn hùng vĩ có chữ viết riêng. Người đặt cơ sở đầu tiên cho việc phát triển tiếng nói, chữ viết Pa Kô - Tà Ôi là thầy giáo Hồ Ngọc Mỹ - người chiến sĩ cách mạng đầu tiên được Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế cử từ đồng bằng lên vùng miền núi phía Tây tuyên truyền đường lối cách mạng.
Giữa đại ngàn Trường Sơn một buổi chiều cuối tuần êm ả trong màn sương lạnh, chúng tôi đã được gặp và nghe thầy Hồ Ngọc Mỹ kể về những năm tháng mày mò sáng chế bộ chữ cho đồng bào dân tộc Pa Kô - Tà Ôi.
Mười năm “thái nghén”
Thầy Hồ Ngọc Mỹ (tức thầy Ku Nô) giác ngộ cách mạng từ năm 1943, lúc đầu hoạt động tại quê nhà thuộc xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Năm 1947, khi mặt trận Huế vỡ, ông được tổ chức Đảng phân công nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng ở vùng núi phía Tây Trị - Thiên mà chủ yếu là ở huyện A Lưới cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất.
Thầy Ku Nô và vợ đang kể về những năm tháng mày mò sáng chế bộ chữ cho đồng bào dân tộc Pa Kô - Tà Ôi
Thầy Ku Nô kể lại: “Hồi đó, tôi được tổ chức phân công dạy chữ quốc ngữ cho đồng bào, qua đó tuyên truyền đường lối cách mạng. Đồng bào Pa Kô - Tà Ôi lúc đó còn đang sống như thời kỳ nguyên thủy, họ tính tuổi theo mùa rẫy, lấy lá rừng làm chén đựng thức ăn, đàn bà con gái không đủ váy mặc, thanh niên đóng khố bằng lá dăm-lo…
Đặc biệt, cả tôi và 99% đồng bào không hiểu tiếng nói của nhau”. Khó khăn chồng chất khó khăn nhưng với sự quan tâm của tổ chức, bằng tấm lòng người Kinh xem người Pa Kô - Tà Ôi là anh em như lời Bác Hồ dạy “Kinh Thượng là một”, lớp học chữ quốc ngữ của thầy Ku Nô dần dà “đơm hoa kết trái” khi người dân tự nguyện hiến nhà ở làm trường lớp, lấy cật tre vót nhọn làm bút châm lên lá chuối rừng thay vở chép lại từng chữ thầy giáo viết bằng đất vàng trên tấm bảng gỗ phết lõi pin.
Năm 1957, chiến dịch chống nạn mù chữ cho đồng bào Pa Kô - Tà Ôi thông qua phong trào “bình dân học vụ” do thầy Ku Nô khởi xướng phát triển mạnh. Nhưng thầy Ku Nô vẫn thấy buồn khi dạy câu ca dao Trong đầm gì đẹp bằng sen - Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng, mọi người thuộc làu và nhớ mặt từng con chữ nhưng khi hỏi nghĩa thì ai cũng lắc đầu…
Trăn trở, thầy Ku Nô phát hiện, trong cách phát âm của đồng bào Pa Kô - Tà Ôi có những thanh điệu không thể ghi lại bằng mẫu tự tiếng Việt. Vì vậy, phải dùng mẫu tự Latin phiên âm hay đặt dấu, soạn thêm ký tự diễn đạt ngôn ngữ.
Thầy Ku Nô giảng giải: “Đối với những mẫu tự người Pa Kô - Tà Ôi không ghi lại được bằng tiếng Việt, tôi cùng hai người học trò xuất sắc, cũng là đồng nghiệp dạy bình dân học vụ là Ku Pống và Ku Trích quyết định sáng chế dấu chấm lửng. Như chữ ơ ghi dấu ươ, chữ ố ghi dấu uô… Từ ý tưởng trên, ba thầy trò chúng tôi đã xin phép tỉnh ủy biên soạn bộ chữ Pa Kô - Tà Ôi vào năm 1958”.
Có chữ là có tất cả
Từ bộ chữ Pa Kô - Tà Ôi vừa sáng chế, Ku Nô tổ chức lớp học “nguồn” để đào tạo, bồi dưỡng về sự khác biệt thanh điệu cho đồng nghiệp. Lớp học kết thúc, 20 giáo viên nhanh chóng tỏa về các bản làng dạy chữ Pa Kô - Tà Ôi cho đồng bào.
Đường Trường Sơn đã đi vào lịch sử nhưng những người lính Cụ Hồ vẫn tiếp tục nhiệm vụ xây dựng qAuê hương “nối dài” con đường huyền thoại của dân tộc. |
Một tháng rồi một năm sau, phong trào học chữ quốc ngữ thông qua bộ giáo trình Pa Kô - Tà Ôi lan ra cả vùng rừng núi hai huyện A Lưới và ĐaKrông - nơi có đồng bào dân tộc Pa Kô - Tà Ôi sinh sống.
Thầy Ku Nô xúc động: “Năm 1959, đồng bào Pa Kô - Tà Ôi đều đã đọc thông, viết thạo chữ quốc ngữ thông qua bộ giáo trình mới. Đặc biệt, họ rất tự hào và sung sướng khi có chữ riêng. Nhiệm vụ tuyên truyền cách mạng cho đồng bào từ đây vô cùng thuận lợi thông qua những bản tin hay những câu ca hò vè viết bằng chữ Pa Kô - Tà Ôi. Minh chứng rõ nét nhất là số con em Pa Kô - Tà Ôi thoát ly theo cách mạng ngày càng đông”.
Hiện giờ, thầy Ku Nô đã bước sang tuổi 86, sức khỏe suy yếu, ai muốn nói chuyện với thầy phải có người nhà nói lại qua chiếc máy trợ thính thầy vẫn đeo trên tai. Hằng tháng thầy vẫn từ TP Huế vượt qua hàng trăm cây số về với đại ngàn Trường Sơn, tâm tình cùng đồng bào Pa Kô - Tà Ôi.
Trong lời giới thiệu cuốn sách dạy tiếng Pa Kô - Tà Ôi do Viện Ngôn ngữ học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam xuất bản vào năm 1986, đã khẳng định: Sự ra đời và sử dụng chữ viết Pa Kô - Tà Ôi có ý nghĩa chính trị và thực tiễn to lớn.
Trước hết, nó thể hiện sự quan tâm của Đảng, Mặt trận Dân tộc Giải phóng đối với việc sử dụng và phát triển tiếng nói dân tộc, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân Pa Kô - Tà Ôi và góp phần vào việc tuyên truyền giác ngộ cách mạng, thực sự là phương tiện mang ánh sáng cách mạng đến với đồng bào dân tộc… Thầy Ku Nô là người đặt cơ sở đầu tiên cho công tác phát triển tiếng nói, chữ viết Pa Kô - Tà Ôi”.
Bài 2: Khuất phục “thần chết” trên dãy Trường Sơn
(SGGP-12G).- Bất chấp khó khăn, nguy hiểm, các chiến sĩ Binh đoàn 12, Bộ Quốc phòng đã phát hiện và tiêu hủy được 1.572 quả đạn cối, 1.438 quả bom bi, 1.327 quả đạn khác cùng 214 ngòi nổ các loại giúp hồi sinh “vùng đất chết”, đem lại sự bình yên cho các bản làng cư trú trên dãy Trường Sơn hùng vĩ.
Khuất phục “thần chết”
Trời mưa mỗi lúc một nặng hạt nhưng 20 chiến sĩ công binh trẻ trong quân phục xanh tay mang dây thừng, lốp xe đạp, đòn gánh vẫn sẵn sàng vào trận “đánh vật” với 8 quả bom từ 250-270 cân Anh nằm trên phía đồi cao gần mỏ nổ xã Hương Phong, huyện A Lưới.
Lần đầu tiên thấy bom, máu me nghề nghiệp, tôi lập tức rút máy ảnh trong cặp định chạy theo tác nghiệp nhưng mấy anh chỉ huy trong đội phá hủy bom mìn tươi cười nói: “Nhà báo cứ bình tĩnh, việc tiêu hủy số bom này phải diễn ra từ giờ đến trưa”. Quả thật, để di chuyển một quả bom từ nơi tập kết đến hố tiêu hủy cách nhau khoảng 500m, ngoài sự kiên trì gan dạ, các chiến sĩ công binh còn phải biết phối hợp nhịp nhàng trong từng thao tác từ thắt dây thừng đến vị trí đặt đòn gánh...
Gần một giờ đồng hồ dầm dề dưới trời mưa, hai quả bom to như hai con heo nái đã được các chiến sĩ công binh di chuyển và đặt ngay ngắn vào vị trí tiêu hủy. Tiếp đó, bộ phận kỹ thuật gồm 5 chiến sĩ do đại úy Phan Anh Tuấn chỉ huy cẩn thận kẹp 3 ngòi nổ thuốc TNT và 2 kíp điện. Kéo đoạn dây điện nối từ ngòi nổ lại vị trí kích điện khoảng 200m, họ kiểm tra lại lần cuối các thao tác. Nháy mắt, một tiếng nổ “ầm…ầm” xé toang bầu trời… Cứ thế, từ sáng sớm tinh mơ đến gần giữa trưa, 8 quả bom lần lượt được tiêu hủy.
Trong lúc các chiến sĩ công binh tiếp tục nhiệm vụ, trung tá Mai Xuân Kỳ, Đội trưởng Đội rà phá bom mìn Binh đoàn 12, dẫn chúng tôi ra phía triền đồi cách mỏ nổ khoảng 500m - khu vực tập kết các loại bom mìn do đồng đội của anh mới đào bới từ lòng đất thuộc địa bàn xã Hồng Thượng và Hương Phong. Lật dỡ từng nắp thùng gỗ bên trong có những quả bom nằm ngăn nắp theo từng loại, Trung tá Kỳ giới thiệu: “Đây là bom bi, đây là bom bướm, đây là đạn cối…”.
Thấy chúng tôi có vẻ hơi sợ, anh cười trấn an: “Bom mìn mặc dù vô giác nhưng nếu nắm chắc được tính năng của từng loại thì sẽ dễ dàng hơn trong quá trình tìm kiếm, di chuyển, tiêu hủy… Những loại bom bướm, bom bi nguy hiểm nhưng không đáng gờm bằng bom đạn phốt pho. Bởi sau nhiều năm ẩn mình trong lòng đất, lớp kim loại vỏ bọc bên ngoài đã hoen rỉ, tạo điều kiện cho chất phốt pho rò rỉ ra bên ngoài nên hễ gặp không khí là nó tự cháy nổ”. Vậy làm thế nào để lôi bom ra khỏi lòng đất? Anh Kỳ hướng dẫn: “Gặp bom phốt pho, anh em phải dùng băng gạc y tế thấm đẫm nước bao bọc lại chỗ rò rỉ. Tiếp đó, buộc chặt lại rồi dùng bàn trượt hay nhẹ nhàng dùng đòn gánh khiêng về bãi tiêu hủy”.
Đem lại sự bình yên cho đồng bào
Trời mưa nhưng các chiến sĩ công binh Binh đoàn 12, Bộ Quốc phòng vẫn phối hợp nhịp nhàng di chuyển 8 quả bom từ 250-270 cân Anh từ địa điểm tập kết đến hố tiêu hủy
Đại tá Thái Vĩnh Tính, Giám đốc Công ty Xây dựng 384, Binh đoàn 12, cho biết, bắt đầu từ tháng 5-2008, đơn vị được giao nhiệm vụ tiến hành rà phá bom mìn trên diện tích 1.200ha thuộc địa bàn xã Hương Phong nhằm phục vụ cho chương trình tái định cư và mở rộng diện tích đất sản xuất cho đồng bào Pa Kô, Vân Kiều. Với phương châm nhanh chóng, hiệu quả, có lúc đơn vị đã huy động tới cả ngàn chiến sĩ tham gia tìm kiếm bom mìn. Ngoài 8 quả bom mới được tiêu hủy thành công, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đơn vị còn phát hiện và tiêu hủy 1.572 quả đạn cối, 1.438 quả bom bi, 1.327 quả đạn khác và 214 ngòi nổ các loại.
Nhìn nhận về chiến công thầm lặng của những người lính trẻ Binh đoàn 12, ông Hồ Chí Thời, Chủ tịch UBND huyện A Lưới, xúc động nói: “Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, A Lưới - địa danh được xem là điểm nút của đường Trường Sơn với vô vàn cung, nhánh đường bộ cơ giới, đường vòng qua đất nước bạn Lào như Ngã ba đường 71 (xã Hồng Vân); Ngã ba đường 72 (xã Phú Vinh); Ngã ba đường 73 (xã Hương Phong); Ngã ba đường 74 (xã Hương Lâm và A Đớt); động Tiến Công (xã Hồng Kim); động Đông So (xã Hồng Bắc); địa đạo A Đon (xã Hồng Quảng). Nhằm chặn đứng tuyến chi viện chiến lược Bắc - Nam, Không lực Hoa Kỳ đã huy động hàng vạn tấn bom “dội” xuống vùng đất này.
Chiến tranh đã đi qua 34 năm nhưng di chứng của nó để lại trên mảnh đất này khó có thể thống kê được. Nay những người lính công binh với phẩm chất bộ đội Cụ Hồ đã bất chấp mọi gian nan, nguy hiểm dọn sạch số bom đạn còn sót trên địa bàn, hồi sinh “vùng đất chết”, đem lại sự bình yên cho các bản làng”.
Không chỉ đảm nhận nhiệm vụ rà phá bom mìn, Binh đoàn 12 còn làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục quần chúng nhân dân, các em học sinh trên địa bàn về tác hại và cách phòng tránh các loại bom mìn. Ngoài ra còn giúp đỡ đồng bào phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng. Những “vùng đất chết” sau bước chân những chiến sĩ công binh được hồi sinh xanh mượt những đồi cà phê, cao su, keo lai… Bây giờ, mỗi khi nhắc đến các anh, đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống trên dãy Trường Sơn hùng vĩ này trìu mến gọi các anh - những chiến sĩ công binh trong quân phục xanh là những con người khuất phục “thần chết”.
Vũ Văn Thắng - Bình Thái
Bài 3: Trang trại nấm của 111 nữ cựu chiến binh
Ở xã Khánh Cư, huyện Yên Khánh (Ninh Bình) có một công ty cổ phần trồng nấm rất kỳ lạ. Tất cả cổ đông, ban giám đốc, ban quản trị và cả công nhân của công ty đều là phụ nữ và là cựu chiến binh của Đoàn 559 tham gia mở đường Trường Sơn huyền thoại năm xưa.
Một thời khói lửa
Chủ tịch HĐQT công ty là chị Phạm Thị Cúc, một nữ thương binh, đã sống những năm gian khổ ở Trường Sơn, thật thà, chất phác. Hai phó chủ tịch HĐQT là chị Phạm Thị Thái, 55 tuổi và chị Đinh Thị Nhạc, 56 tuổi - những người đàn bà khắc khổ không chỉ trong những năm tháng trận mạc mà cả giữa thời bình.
Nấm, sản phẩm của những nữ cựu chiến binh Trường Sơn mang thương hiệu T&B - có nghĩa là thương binh và bệnh binh
Chị Cúc nhớ lại: “Tháng 10-1973, tôi làm đơn xung phong vào chiến trường và được đưa về Sư 473 thuộc Đoàn 559. Năm 1974, trong khi đang thu lượm các tấm ghi ở sân bay Tà Cơn (Quảng Trị) để về làm bàn ăn cho bộ đội thì tôi bị vướng mìn và ngất, nằm bất động 3 ngày liền, chuột tưởng xác chết cắn rách cả mí mắt. Trở ra Bắc điều trị trong 4 tháng, tôi xung phong trở lại chiến trường, làm ở văn phòng của Đoàn 559”.
Chỉ vào chị Thái đang ngồi bên cạnh, chị Cúc nói: “Chị Thái đây cũng là lính ở Trường Sơn, một trong số hơn 200 chị ở Ninh Bình xung phong vào rừng Trường Sơn mở đường”. Chị Thái là lính công binh, nhập ngũ tháng 8-1973, ở Sư 472 cũng thuộc Đoàn 559 làm đường 20 - Quyết Thắng (rải nhựa). Chị nổi tiếng với kỷ lục một ngày đập được 4m3 đá để làm đường và “giật” 23 quả bộc phá cho núi nổ để khai thác đá. Hơn 100 chị em còn lại cũng đều là lính chính quy và TNXP, đã hy sinh tuổi thanh xuân cho đường Trường Sơn huyền thoại, trong đó có hơn 60% hiện là thương binh, bệnh binh.
Từ trang trại đến công ty cổ phần nấm
Khi trở về Bắc, để tưởng nhớ những năm gian khổ, cũng nhằm tạo mối liên lạc thường xuyên giữa các chị em đã từng một thời sống giữa mưa bom bão đạn của rừng Trường Sơn, chị Cúc và nhiều chị em khác nghĩ ra việc thành lập một ban liên lạc và UBND tỉnh Ninh Bình đã chấp thuận. Chủ trương đưa ra, chị em nào cũng hưởng ứng. Lần gặp lại nhau đầu tiên, họ ôm nhau khóc bởi mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau. Có chị sinh nở 3 lần thì cả 3 đứa con đều bị nhiễm chất độc da cam. Có chị quá thì phải ở vậy, lại còn nuôi cha già. Có chị thì bị bệnh tật đeo đẳng, suốt ngày đóng cửa lẩn trốn cuộc đời. Nhiều chị không lo nổi 30.000đ để góp vào quỹ, đến bữa cơm liên hoan không dám ở lại ăn vì ngại…
Sau đó, chị Cúc nghĩ ra cách cùng tổ chức đi làm thuê nhưng làm mãi cũng chỉ có nổi 1,3 triệu đồng. Lúc ấy, Bí thư Huyện ủy Yên Khánh bảo các chị không nên đi làm thuê nữa mà có thể mở một cơ sở trồng nấm vì nó dễ làm, lại ít vốn. Sau đó, huyện bố trí hẳn một xe đưa các chị đi tham quan mô hình ở Hưng Yên, Thái Bình.
Trở về, các chị thành lập một HTX trồng nấm mang tên 27-7 và tự mày mò học thêm. Rồi chị em kéo nhau lên Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật ở Hà Nội để mua nấm giống. Giữa trưa, hàng trăm chị tràn ra đồng cắt cỏ, chặt cây, dựng lều, làm trại như ở Trường Sơn thuở trước. Tất cả đều do bàn tay phụ nữ, không hề có một bóng dáng đàn ông. Chẳng bao lâu, những ngôi nhà rạ mọc lên giữa đồng. Trụ sở làm việc cũng là mái rạ. Nguyên liệu làm nấm cũng là rơm rạ do bà con thương tình cho, đem về chất thành đống mà theo như lời chị Cúc thì trông cũng na ná dãy Trường Sơn.
Để có đất trồng nấm, các chị phải mượn hơn 10ha của Hội Người cao tuổi xã Khánh Hồng, nằm giữa khu đồng hoang vắng. Sự kiện một nhóm nữ cựu chiến binh Trường Sơn thành lập một cơ sở nuôi trồng nấm ngày càng lan rộng. Chính Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình, ông Đinh Văn Hùng, cũng ngỡ ngàng.
Ông Hùng đã đóng giả một dân thường tìm về cơ sở của 111 nữ cựu chiến binh để hỏi thăm. Sau khi tận mắt chứng kiến cuộc sống và nghị lực của các chị, ông Hùng vô cùng xúc động, hỗ trợ ngay 5 triệu đồng để giúp đỡ họ. Ngay sau khi trở về, ông đã yêu cầu các nhân viên trong cơ quan dành hẳn một ngày lương, hơn 30 triệu đồng, ủng hộ các chị. Đồng thời, ông cũng yêu cầu bố trí ngay mảnh đất rộng hơn 4.000m2 - nguyên là cơ sở của nhà máy rượu bỏ hoang ở xã Khánh Cư (Yên Khánh, Ninh Bình) - cho các chị thuê dài hạn với giá rẻ.
Để tiện làm ăn, các chị họp nhau lại và bàn việc “nâng cấp” hợp tác xã thành Công ty Cổ phần T&B, có nghĩa là thương binh và bệnh binh. 16 chị em có điều kiện hơn cùng góp vốn lại, tất cả được 300 triệu đồng, gọi là cổ đông, để đầu tư mở rộng các nhà trồng nấm. Còn lại gần 100 chị em khác trở thành những thành viên của công ty. Giờ đây, tài sản của họ đã có tổng giá trị lên tới 3-4 tỷ đồng.
Mơ ước nhỏ
Sau khi biết việc làm của các chị, GS Nguyễn Lân Dũng đã về tham quan và nhận đỡ đầu về kỹ thuật. GS Dũng đã giúp các chị không chỉ trồng nấm mà hiện còn trồng nhiều loại cây nông nghiệp giá trị khác như bắp ngọt, đu đủ Đài Loan, cà chua nhót, khoai lang Nhật…
Chị Thái cho biết: “Hiện chúng tôi đã sản xuất được 7 loại nấm khác nhau gồm nấm sò, nấm rơm, nấm linh chi…, làm ra bao nhiêu cũng không đủ nhu cầu cho các nhà hàng, siêu thị ở Hà Nội thu mua. T&B đã trở thành một thương hiệu. Giờ đây chúng tôi không còn lo về đầu ra nữa nhưng lại gặp khó khăn trong việc đầu tư mở rộng cơ sở sản xuất. Nấm làm ra vẫn phải mang đi nhờ sơ chế ở cơ sở khác. Mơ ước của chị em là được Nhà nước hỗ trợ, cho vay khoảng 500 triệu đồng theo chính sách vốn kích cầu để bê-tông hóa các nhà trồng nấm, mua máy sơ chế nấm...”.
Chị Cúc thì nói rằng: “Tôi còn có một mơ ước là một ngày nào đó làm ăn khá, chúng tôi sẽ xây ngay ở nơi đây một hội trường và nhà triển lãm các kỷ vật của những nữ chiến sĩ Trường Sơn năm xưa, để hằng năm, cứ đến ngày kỷ niệm đường Trường Sơn, tất cả chị em đã từng tham gia những ngày khói lửa lại tề tựu về gặp mặt, sẻ chia, ôn lại những ngày hào hùng, oanh liệt”. Hiện nay, hầu như mỗi tuần đều có các đoàn ở khắp trong Nam, ngoài Bắc tìm về tận Yên Khánh (Ninh Bình) để tham quan mô hình của những nữ cựu chiến binh Trường Sơn một thời này.
VĂN PHÚC HẬU
Bài 4: Bảo tàng Làng chiến tranh
Sau khi nghỉ hưu, người cựu chiến binh Nguyễn Xuân Liên đã từ Hà Nội vào thăm chiến trường xưa ở Quảng Bình. Và ông tự thấy cần làm điều gì đó cho mảnh đất vô vàn hy sinh mà anh hùng này để ngưỡng vọng những đồng đội đã ngã xuống. Thế là, khu bảo tàng Làng chiến tranh ra đời bên đường mòn 15A (cũ) và 4.300 địa chỉ liệt sĩ được ông chuyển tải lên mạng giúp thân nhân các gia đình có thể tìm được người thân.
Chính xác từng chi tiết
Ông Nguyễn Xuân Liên (đi sau cùng) gặp những người cựu binh Trường Sơn năm xưa và giới thiệu với họ về Làng chiến tranh
Năm 1992, trở lại thăm chiến trường xưa, người cựu binh Nguyễn Xuân Liên cứ thế miên man tìm về những địa chỉ lửa, những triền cát trắng chang chang. Đồng đội người còn, người mất. Những ký ức bom đạn ám ảnh. Ông nói, những năm 1965-1972 ông đã sống như người con địa phương ở các lối mòn Trường Sơn đến những miền cát trắng ven biển Quảng Bình. Đi đâu ông cũng được cưu mang, đùm bọc, nuôi nấng.
Sau chuyến trở lại đó, ông quyết định bán nhà ở Hà Nội, vào Quảng Bình, xin địa phương tái hiện một khu làng thời chiến tranh chống Mỹ với diện tích hơn 12ha tại Vực Quành, phường Nghĩa Ninh, TP Đồng Hới, ngay bên đường 15A.
Ngôi làng ông dựng lên giống như những năm 60-70 của thế kỷ trước. Những căn nhà ngoài cày, cuốc thì ba gian nhà chất đầy gạo là của bộ đội. Dù bữa cơm các gia đình có đứt bữa thì gạo ấy, người dân không bao giờ lấy đi một hạt. Ông Liên phục dựng đầy đủ tinh thần đó.
Và trong khu làng, ông còn cho đào hàng loạt đường hầm, hàng loạt đường giao liên, công sự nhằm tái hiện lại cảnh dân quân, du kích trực chiến bắn máy bay, đó cũng là con đường người dân ra đồng, bộ đội hành quân ra trận. Giữa mảnh làng tái hiện đó, có cái hầm rộng, trong đó có những chiếc nôi được đặt đều đặn mỗi gốc, biểu trưng của hình ảnh trẻ em được chăm bẵm từ lúc mới sinh dưới lòng đất. Tất thảy được ông tạo dựng một cách chăm chút, tỉ mỉ.
Rồi cả một phòng mổ, trường học dưới lòng đất cũng được ông tái dựng. Địa hình sông suối ở Vực Quành được ông dựng lên những chiếc cầu phao cho xe qua như thời kháng chiến. Những việc đó ông làm với tất cả tâm nguyện như muốn nhắc nhở những ai sống trong thời kỳ rực lửa ấy đều không bị lãng quên và thế hệ sau đừng quên đi quá khứ hào hùng ấy.
Ông nói: “Tất cả chi tiết, khung cảnh làng chiến tranh tôi dựng lên đều từ tài liệu Lịch sử Đảng bộ Quảng Bình và Lịch sử chiến tranh Quảng Bình nên mọi thứ chính xác từng chi tiết”.
4.300 địa chỉ liệt sĩ
Những ngày này, nếu một ai trở lại Quảng Bình, xin ghé thăm người cựu chiến binh Nguyễn Xuân Liên để được thả hồn vào một không gian kháng chiến của những năm tháng lửa đạn. |
Trở lại sống bên đường Trường Sơn năm xưa, ông lại đau đáu nghĩ về những đồng đội chưa được gia đình tìm thấy hài cốt. Tại nhiều nghĩa trang, tên tuổi của họ đó nhưng vì nhiều lý do mà thân nhân họ vẫn mỏi mòn tìm kiếm. Và ông thấy mình phải làm một điều gì đó cho đồng đội. Nhiều đêm suy nghĩ, ông quyết định chọn Internet để làm cầu nối thông tin giữa liệt sĩ và thân nhân của họ. Mỗi ngày, với đủ loại phương tiện, ông đi khắp các nghĩa trang liệt sĩ dọc dài miền cát Quảng Bình để chụp ảnh 4.300 liệt sĩ, sau đó đưa vào blog của mình và trang web nhantimdongdoi.org. Nhiều gia đình liệt sĩ sau khi thấy thông tin do ông đưa lên mạng đã tìm được người thân của mình.
Một lần, khi đoàn nhà báo Bắc Giang vào thăm Làng chiến tranh của ông, họ hỏi thông tin về các liệt sĩ Bắc Giang, ông đã cung cấp địa chỉ, hình ảnh, sơ đồ mộ nơi các liệt sĩ an nghỉ. Báo Bắc Giang đã đăng những thông tin đó, nhờ vậy mà có 6 gia đình tìm được người thân sau gần 40 năm không có thông tin.
Người cựu binh Nguyễn Xuân Liên ngoài bận bịu những công việc như thế, ông cũng dành nhiều thời gian trả lại tên cho các liệt sĩ. Câu chuyện ông nhớ mãi là đầu năm 2008, một người phụ nữ gọi điện cho ông vì thấy trên trang web bức ảnh chụp một bia mộ ở Nghĩa trang Ba Dốc (TP Đồng Hới) ghi tên liệt sĩ Dương Văn Dung (Khôi Kỳ, Đại Từ, Thái Nguyên). Tuy nhiên, theo chị, tên đúng phải là Dương Văn Nhung. Chị xin ông giúp trả lại đúng tên cho liệt sĩ. Ông Nguyễn Xuân Liên đã lên Sở LĐ-TBXH tỉnh xin xem hồ sơ liệt sĩ đó và xác định tên thật của anh đúng là Dương Văn Nhung. Ông đã đề xuất khắc lại tên anh trên bia mộ. Ngày gắn bia, ông gọi điện cho người phụ nữ biết, chị đã khóc và cho liệt sĩ Nhung là chồng chưa cưới của chị. Năm 1971, họ đã hẹn ước với nhau cuối năm sẽ cưới nhưng anh đã nằm lại chiến trường.
Câu chuyện về người liệt sĩ đầu tiên nghiên cứu phá bom từ trường ở phà Xuân Sơn (Bố Trạch, Quảng Bình) vẫn được nhiều người ở Quảng Bình kể với tất cả sự khâm phục. Đấy là liệt sĩ Nguyễn Chí Phán. Khi liệt sĩ Phán hy sinh, vợ của anh ở Mỏ Cày, Bến Tre mới sinh con gái được 7 tháng. Con gái anh được đặt tên là Thắm. Lớn lên, Thắm được má dặn phải tìm cho được hài cốt của ba. Chị Thắm đã đi khắp chiến trường ba chị từng chiến đấu nhưng không tìm ra. Khi ông Liên đưa địa chỉ liệt sĩ Phán lên trang web nhantimdongdoi.org, người thân đọc được đã báo tin cho chị Thắm. Chị đã ra Quảng Bình và được ông đưa lên Nghĩa trang Thọ Lộc, cách phà Xuân Sơn 10 cây số. Ở đó chị đã tìm được ba mình sau hơn 40 năm. |
Đình Tứ