Ngày 5-9-2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 115/2005/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ (KH-CN) công lập. Đối với những người làm khoa học, nghị định này là làn gió mới cho hoạt động nghiên cứu khoa học.
Cú hích ngoạn mục
Theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP (Nghị định 115), có hai loại hình tổ chức KH-CN có thể chuyển đổi hoạt động.
Với cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, nhiều tổ chức KH-CN công lập có khả năng nghiên cứu và thương mại hóa sản phẩm ra thị trường. (Trong ảnh: Chào bán công nghệ môi trường và bảo hộ lao động) tại Techmart Khánh Hòa.Ảnh: T.L
Thứ nhất là tổ chức KH-CN tự trang trải kinh phí hoạt động, được hiểu là đơn vị tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên, được tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình và chịu sự kiểm tra, kiểm soát của một cơ quan chủ quản.
Điều quan trọng là khi chuyển đổi, tổ chức KH-CN đó vẫn là một tổ chức KH-CN hoạt động theo Luật KH-CN, được hưởng các ưu đãi của một tổ chức KH-CN, đồng thời trong hoạt động sản xuất - kinh doanh thì được hưởng những quyền lợi ưu đãi khác như doanh nghiệp mới thành lập theo quy định của pháp luật.
Thứ hai là doanh nghiệp KH-CN được tổ chức theo mô hình công ty, hoặc mô hình công ty mẹ - công ty con, đồng thời trong lĩnh vực nghiên cứu - triển khai được hoạt động như một tổ chức KH-CN. Khi trở thành doanh nghiệp, các tổ chức KH-CN công lập được quyền triển khai sản xuất từ A đến Z. Không những thế, họ còn có quyền sản xuất kinh doanh tất cả các mặt hàng khác mà pháp luật không cấm, thậm chí, có quyền xuất nhập khẩu trực tiếp.
Điểm thoáng nữa trong Nghị định này là người đứng đầu tổ chức KH-CN công lập còn có thêm quyền về nhân sự và tài chính. Họ có quyền quyết định toàn bộ biên chế của tổ chức, bổ nhiệm, miễn nhiệm, biệt phái, nghỉ hưu, chấm dứt hợp đồng lao động, khen thưởng, kỷ luật tất cả các chức vụ trong tổ chức của mình. Thủ trưởng đơn vị có quyền “trực tiếp quyết định mời chuyên gia, các nhà khoa học nước ngoài vào Việt Nam và cử cán bộ ra nước ngoài công tác”.
Tổ chức càng lớn, càng chậm triển khai - vướng mắc gì?
Theo quy định của Chính phủ, đến hết ngày 30-12-2006, các tổ chức KH-CN phải xây dựng và phê duyệt xong đề án chuyển đổi, nhưng theo thống kê sơ kết mới đây, trong tổng số 569 tổ chức KH-CN thuộc bộ, ngành, địa phương, mới có 161 tổ chức KH-CN có đề án được phê duyệt (chiếm 25%), 142 tổ chức KH-CN có đề án trình phê duyệt (chiếm 21%) và 313 tổ chức KH-CN đang xây dựng đề án.
Đặc biệt, những tổ chức KH-CN mới bắt đầu hoặc chưa lập đề án chuyển đổi lại nằm chủ yếu ở những trung tâm nghiên cứu triển khai lớn. Bộ GD-ĐT có khoảng 194 viện, trung tâm KH-CN nhưng mới chỉ báo cáo có 7 tổ chức KH-CN thực hiện chuyển đổi. Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có một lượng lớn các viện nghiên cứu cơ bản nhưng cũng chỉ trong giai đoạn đầu khởi động.
Việc triển khai Nghị định 115 ở các địa phương thì gặp khó khăn ngay từ đầu. Đặc biệt đối với vùng sâu, vùng xa, việc triển khai càng gặp khó khăn hơn. Tiến độ triển khai Nghị định 115 ở các địa phương còn chậm, số lượng các đề án chuyển đổi được phê duyệt còn thấp (tính đến ngày 30-9-2007 mới có 14 đề án được phê duyệt, chiếm khoảng 10,8% tổng số tổ chức KH-CN cần chuyển đổi). Số lượng các tổ chức KH-CN đã chuẩn bị xong đề án chờ phê duyệt cũng chưa cao (72 đề án, chiếm khoảng 55,8%).
Tư duy, năng lực quản lý vẫn luôn là bài toán khó giải
Mặc dù là cơ hội “ngàn vàng”, nhưng cuộc chuyển đổi đã gặp không ít khó khăn, vướng mắc.
Theo các chuyên gia KH-CN có tâm huyết, cản trở cho việc triển khai này, đầu tiên phải kể đến sự nhận thức chưa đúng và chưa đủ về Nghị định 115 của lãnh đạo một số bộ, ngành, địa phương. Đặc biệt còn lúng túng trong xác định đối tượng điều chỉnh của Nghị định 115 hay Nghị định 43. Ngoài ra, một số bộ, viện nghiên cứu có một số lượng lớn các tổ chức KH-CN trực thuộc. Những nơi này cần có thời gian để phân loại, sắp xếp các tổ chức KH-CN, thẩm định các đề án chuyển đổi.
Một số nhà khoa học còn cho rằng tiềm lực KH-CN của các tổ chức KH-CN ở các địa phương còn yếu, thị trường công nghệ chưa phát triển; ứng dụng KH-CN chưa cao; việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định 115 còn chậm và không đồng bộ; … đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc triển khai Nghị định 115.
Đối với vùng sâu, vùng xa, khi các tổ chức KH-CN có cơ sở vật chất kém, lạc hậu, đội ngũ cán bộ còn hạn chế,…thì việc chuyển sang hoạt động theo cơ chế tự trang trải càng gặp khó khăn hơn. Điển hình như các trung tâm ứng dụng tiến bộ KH-CN thuộc Sở KH-CN đa số hoạt động như một trung tâm khuyến nông – lâm – ngư, mới chỉ đảm bảo được nguồn thu từ 20 – 30% kinh phí hoạt động hàng năm. Trong khi thị trường công nghệ ở đây lại chưa có, DN thì ít quan tâm đến nghiên cứu khoa học, các tổ chức KH-CN không có những công nghệ tiên tiến để bán hoặc chuyển giao nên việc thực hiện được Nghị định 115 thật sự còn xa vời.
Sau hơn 2 năm triển khai thực hiện, mặc dù đạt được những kết quả ban đầu, nhưng tốc độ triển khai Nghị định 115 còn chậm, số lượng tổ chức KH-CN có đề án chuyển đổi được phê duyệt còn quá ít. |
Lộ trình thực hiện Nghị định 115 với thời gian quá ngắn cũng là một nguyên nhân, các địa phương khó có thể chuẩn bị kịp các điều kiện cần thiết để đáp ứng được. Nghị định 115 ban hành tháng 9-2005 nhưng đến tháng 6-2006 mới có Thông tư hướng dẫn thực hiện (Thông tư số 12/TTLT/BKHCN-BTC-BNV của liên bộ KH-CN, Tài chính, Nội vụ). Tính từ thời điểm này đến khi kết thúc lộ trình chuyển đổi (hơn ba năm) là quá ngắn đối với các tổ chức KH-CN ở các vùng khó khăn.
Theo quy định, đến cuối tháng 12-2009, tất cả các tổ chức KH-CN công lập trong diện sẽ phải chuyển đổi thành một trong hai hình thức, hoặc là thành tổ chức KH-CN tự trang trải kinh phí hoặc là thành doanh nghiệp KH-CN. Nếu đơn vị nào không chuyển đổi được, sẽ kiên quyết giải thể hoặc sáp nhập. Vì vậy, theo ý kiến của nhiều bộ, ngành nên chăng gia hạn thêm thời gian triển khai thực hiện. Thế nhưng điều cốt yếu là, nếu không kiên quyết thực hiện nghiêm túc thì sẽ khó triển khai được nghị định theo đúng lộ trình mặc dù có gia hạn.
LÂM NGỌC