Như một bước tiếp thêm trong quá trình xây dựng và phát triển bộ môn văn hóa học vốn vẫn còn mới mẻ, Đỗ Lai Thúy trong quyển Văn hóa Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hóa vừa xuất bản (NXB Văn hóa Thông tin - Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, 2005) đã tự vạch ra một hướng tiếp cận hoàn toàn khác lạ.
Chọn hướng nghiên cứu này, tác giả đã bỏ qua mô hình tiếp cận truyền thống dựa trên diễn trình lịch sử hoặc trên các hình thái phát triển của kinh tế - xã hội (nô lệ, phong kiến...). Theo tác giả, văn hóa là một sự tổng hòa chứ không phải tổng số của các thành tố văn hóa nên phải tìm ra những mô hình nghiên cứu cho phép sử dụng được các lý thuyết mới, phương pháp tiếp cận mới, để có thể trình bày lịch sử văn hóa như một sự kiện tổng thể.
Nếu hình dung văn hóa như một tam giác nguyên ủy thì đỉnh trên của nó là con người, hai đỉnh dưới là thiên nhiên và xã hội và trong mối quan hệ tương hỗ nhiều chiều này, yếu tố con người đóng vai trò quan trọng nhất.
Các nhà nghiên cứu văn hóa xưa nay tuy không hoàn toàn thống nhất với nhau về khái niệm văn hóa (do vậy mà A. L. Kroeber và C. L. Kluckhohn từ năm 1952 đã kể ra được đến 163 định nghĩa sẵn có về mục từ phức tạp này) nhưng hình như ai cũng thừa nhận chỉ con người mới có văn hóa, cũng như chỉ văn hóa mới làm nên con người.
Nếu đồng ý với cách nhìn nhận đó, xem ra sự lựa chọn mô hình nghiên cứu của Đỗ Lai Thúy lấy con người làm trung tâm là rất hợp tình, hợp lý và có tính sống động.
Xét trên toàn bộ cấu trúc, bộ phận giá trị của tác phẩm Đỗ Lai Thúy có lẽ chủ yếu tập trung ở những phần chuyên luận để luận giải về lịch sử hình thành các tính cách văn hóa trong mỗi thời đại văn hóa, từ đó tạo nên một phương pháp luận mới, nhiều hơn là ở những nhân vật hay bài thơ, bài ca dao mà tác giả đưa ra để minh họa, phụ trợ cho phần phân tích. Tuy nhiên, một số mẫu nêu ra làm minh họa, thực chất chỉ phản ảnh được diện mạo của phần tử trí thức trong xã hội chứ không mang tính đại diện khái quát chung cho mọi thành phần của dân tộc.
Trong khi vạch ra bốn thời đại văn hóa tương ứng với bốn mẫu người văn hóa, tôi có cảm tưởng dường như tác giả đã bỏ sót một thời kỳ quan trọng, đó là giai đoạn từ 1862, khi Pháp bắt đầu đánh chiếm Nam Kỳ, cho tới trước năm 1932 mà ta có thể coi là thời kỳ đầu Pháp thuộc. Nếu có thể coi đây cũng là một thời kỳ văn hóa thì thời kỳ này có những đặc trưng riêng không kém phần quan trọng.
Nó sản sinh ra một lớp mẫu người văn hóa sĩ phu cận đại với đặc trưng yêu nước chống thực dân như Phan Đình Phùng, Đinh Công Tráng, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can... hoặc phân liệt ra thành những hàng ngũ khác như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Hoàng Cao Khải.... Họ dù có thể đứng ở những lập trường khác nhau nhưng đâu có ai giống như kiểu Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Dương Khuê mà tác giả xếp vào mẫu tài tử lãng mạn tương ứng với thời đại gọi là cuối Lê đầu Nguyễn?
Một thời kỳ nữa mà dường như tác giả cũng cố ý bỏ qua hoặc chưa tiện xét tới vì nhiều lý do tế nhị, đó là giai đoạn từ 1945 đến nay. Đây là giai đoạn “chuyển hình kỳ” cực kỳ quan trọng mang ý nghĩa bước ngoặt của đất nước. Rồi còn sự hòa trộn văn hóa giữa hai miền Nam - Bắc, đã đem lại nhiều nhân tố tích cực trong quá trình “tiếp biến” lẫn nhau sau ngày đất nước thống nhất, giai đoạn từ 1975 đến nay, có lẽ cũng là một nội dung quan trọng có ý nghĩa định hướng thực tiễn mà một công trình nghiên cứu văn hóa rất cần xem xét.
Nhờ không câu nệ giáo điều hay lối mòn trong phương pháp nên ưu điểm của tập chuyên luận là trình bày vấn đề một cách thoải mái, bằng một văn phong lưu loát dễ đọc với một quan điểm trung dung ôn hòa, dẫn chứng rộng rãi vừa ở các sách, các lý thuyết hiện đại, vừa ở những hiện tượng văn hóa cụ thể lấy từ các nguồn cứ liệu văn học dân gian, văn học bác học, ngôn ngữ, địa lý, lịch sử, khảo cổ...
Tuy nhiên, trong dòng diễn đạt đầy hứng thú này, đôi khi người đọc cảm thấy tác giả dường như chưa kịp kiểm tra kỹ, do đó không đảm bảo tính xác thực cho hết thảy mọi luận cứ hoặc có phần gượng ép ở đâu đó như khi nói người Việt tự xưng mình là min mà lại liên hệ với con min, cho rằng người Việt tự đồng nhất mình với con min (trở thành vật tổ), còn tên đệm Văn trong Nguyễn Văn, Trần Văn... là nốt vằn, nốt đâm trâu, một thứ hoa văn trên thân thể!
Nhìn chung, cuốn sách đã mô tả được diện mạo văn hóa Việt Nam, tuy chưa hoàn chỉnh, toàn diện, bằng lối nghiên cứu độc đáo - nhìn văn hóa từ những mẫu người văn hóa, đồng thời cũng cung cấp một hướng tiếp cận mới khả dĩ có những đóng góp quan trọng cho bộ môn văn hóa học Việt Nam.
TRẦN VĂN CHÁNH