Nước sông Hương lên ngày càng cao. Mệ(1) đã phải chạy lên gò, đem theo ba con gà nhỏ. Mấy đứa cháu lấy hai miếng tôn dựa vào gốc cây làm thành cái chòi. Một miếng ván kê dưới mái tôn vừa làm giường vừa làm nền. Cả nhà đều đang ở xung quanh, nhưng mệ thích ở một mình để đỡ cực con cháu. Mệ ôm bọc đồ nhìn về xóm nhỏ thở dài buồn bã.
Minh họa: ANH DŨNG
Xóm của mệ ở cách xa vùng dân cư đông đúc. Nghe nói ngày xưa ông cố của mệ là một ông Hoàng thuộc lớp người lao động, không chịu chen chúc trong dinh thự đã ra khu rừng này khai phá và lập vườn.
Cứ thế, bà con kéo nhau ra ở thành xóm. Nhờ xóm nhỏ, lại ở xa khu đông dân nên trong hai cuộc kháng chiến đã trở thành nơi nuôi giấu cán bộ, bộ đội để đêm đêm đột nhập về dưới làng. Nhiều anh em hy sinh được bà con chôn cất quanh đồi. Cũng có gia đình liệt sĩ đã đến nhận hài cốt con cháu.
Nhưng cũng có nhiều liệt sĩ không có người đến tìm. Đồng đội của họ chắc đã hy sinh không còn ai? Có liệt sĩ chắc không còn người thân? Mệ thương anh em nhưng biết làm sao được. Cứ mỗi năm vài lần - nhất là vào dịp tết - mệ thắp nhang giữa sân cầu Trời, khấn Phật cho anh em sớm gặp gia đình...
- Mệ ơi, lở đất sau nhà rồi!
Mệ biết, lụt năm ni to chưa thấy hồi nào. Nước lên tới cái xóm này là quá lắm rồi!
- Mệ ơi, trúc(2) cây vả rồi!
Nghe mấy đứa cháu nội kêu la, mệ thở dài. Rứa là hết! Cây vả là nguồn thu nhỏ nhoi của mệ, nay gãy mất thì mai mốt lấy chi mua trầu, mua thuốc.
- Mệ ơi, mộ ai dưới gốc vả mà đất lở lòi xương cốt ra rồi!
Mộ ai hè? Mệ nheo mắt lục tìm trong đầu. Mộ ai hè?
- Mệ ơi, giữ lại hay...
Trời đất. Mộ chôn ở cây vả... đúng rồi!
- Giữ lại bây ơi! Giữ lại đừng cho trôi nghe. Mộ liệt sĩ đó!
Mệ lúp xúp chạy xuống chân đồi, vừa chạy vừa lầm bầm:
- Bên gốc vả... Đúng là thằng Đông. Đúng mi rồi, Đông ơi!
Mấy đứa cháu đặt bọc ni lông đã rách trên tấm vạt giường khiêng lên chỗ cao ráo. Mệ lật đật chạy đến ngồi xụp bên gói ni lông. Rồi mệ òa khóc:
- Đông ơi, rứa là tìm thấy mi rồi!
Hai bàn tay già lập cập mở từng nút dây dù để lộ ra một bộ xương chen lẫn với đồ đạc, quần áo bộ đội đã mục nát. Mệ tìm gì đó, rồi la lên:
- Đúng thằng Đông rồi! Cái chai đây rồi!
Mệ lấy ra khỏi bọc ni lông một cái chai màu nâu, có nắp kim loại nhưng được bọc trong ba bốn lớp ni lông. Bàn tay người mẹ già run rẩy mở từng lớp rồi đem cái chai về chòi. Mệ trải chiếc khăn đã bạc màu, thận trọng đổ ra mấy thứ đựng trong chai, lẩm bẩm nói một mình: “Cái bóng(3) ni là vợ con thằng Đông, chiếc chìa khóa màu vàng đây rồi, miếng giấy ni có ghi địa chỉ vợ con hắn…”. Bà cầm miếng giấy nhỏ trải ra và lấy tay vuốt đi vuốt lại. Trên mặt giấy có ghi số nhà của người đã mất.
- Đông ơi, rứa là mạ tìm được con, tìm được nhà con rồi!
Mệ kêu mấy đứa cháu lau sạch xương cốt của người chiến sĩ rồi gói trong cái khăn trắng, bỏ vô một bao ni lông sạch. Bà lui cui cột dây, treo bên trong chòi.
Nằm chèo queo trên tấm ván, mệ khóc tức tưởi, nhớ như in người chiến sĩ đã sống bên cạnh mẹ đến ngày cuối cùng.
…Trước Tết Mậu Thân huyện ủy có đưa về đây mấy cán bộ mới từ Hà Nội về, trong đó có thằng Đông nhỏ người, nước da đen nhưng cái miệng thì dễ thương. Đông là dân Phú Lộc đi tập kết nay trở về công tác ở vùng này. Tội nghiệp, hắn nói cha mẹ chết hết, đâu còn ai! Đông biết đào hầm bí mật, cuốc đất giỏi, chịu ăn cực nên mệ thương như con trong nhà. Đêm đêm tụi nó xuống làng, rạng sáng mới về nhà, ra rừng căng võng ngủ, đến trưa mới dậy ăn cơm. Khi có động, tụi nó chui ra đồi xuống hầm bí mật. Mệ ở một mình nên dễ coi chừng lính tráng, bảo vệ cho mấy anh em sống an toàn.
Đông có một cái chai thủy tinh màu nâu, trong chai có chiếc chìa khóa màu vàng. Đi đâu cũng gửi mệ giữ giùm. Mấy lần mệ hỏi về chiếc chìa khóa. Đông cười hì hì:
- Bữa mô rảnh con kể cho mạ(4) nghe. Ly kỳ lắm!
- Cha mi! Mạ có phải con nít mô mà nghe mi kể chuyện ly kỳ.
- Rồi mạ coi, nghe kể xong thì mạ nhớ đời…
Bữa đó mấy đứa chuẩn bị cho cuộc tuyên truyền xung phong diệt ác ở sát thành phố. Chắc là nguy hiểm lắm nên mặt đứa nào cũng căng thẳng. Từ buổi chiều tụi nó đã lục đục chuẩn bị cho buổi đi. Mệ cũng nấu cơm sớm cho anh em ăn. Nhớ lại bây giờ lòng mệ còn đau như cắt: Bữa ăn cuối cùng ấy cũng chỉ có cơm độn sắn, thức ăn chỉ có vả kho ruốc với ớt. Ăn cơm xong, Đông cầm cái chai màu nâu đến ngồi bên mệ.
- Mạ ơi, con gửi mạ cái chai ni, nếu con không về, mạ đưa cho vợ con.
- Cha mi. Mở miệng ra là nói bậy. Mi đi chiến đấu mà nói như rứa thì không hay mô...
- Mạ lo chi. Tụi con như cục đá đập còn không bể chứ nói chơi có sứt mẻ chi mô...
- Đựng chi trong chai ni hả Đông? Mệ hỏi.
- Đây là ảnh mẹ con nó, con đem theo từ Hà Nội, lâu ni phải bỏ vô chai cho khỏi hư... Đây là địa chỉ nhà con ở khu tập thể Kim Liên. Đến ga Hàng Cỏ đi theo đường trở lại Huế, rẽ bên phải thì vô khu tập thể này, qua ba nhà lầu bốn tầng như bao diêm là đến khu nhà con ở. Phòng con ở tầng ba. Đi lên cầu thang rẽ bên phải...
Cầm chiếc khóa màu vàng trên tay, Đông cười hì hì:
- Bữa ni thì nói cho mạ(4) nghe tại sao con đem theo cái chìa khóa màu vàng. Con được gọi về Nam khi vợ con mới sinh cháu trai. Mấy hôm chuẩn bị để lên đường, tụi con gửi cháu nhỏ cho bà ngoại rồi hai đứa đi chơi khắp nơi như lúc mới thương nhau. Mạ biết đó, vợ con vui sao được khi sắp xa chồng, nên con biểu đi đâu thì đi mà trong bụng không vui lắm. Là một cô gái Hà Nội mới lớn, con nhà khá giả chưa bao giờ biết cực khổ, chưa lúc nào phải xa cách người thân, nên gặp sự chia ly này cô ấy đau đớn và bàng hoàng.
Con thương cô ấy quá, phải chi con biết mình sắp về quê chiến đấu, con đã không làm lễ cưới. Mình đi chiến đấu, lỡ có bề chi tội nghiệp một thời con gái... Đêm cuối cùng rời Hà Nội, hai đứa con đi coi phim ở rạp Công Nhân. Con không bụng dạ nào coi phim, bởi lòng tứ tán nhiều chuyện. Con chỉ nhớ đó là một phim Liên Xô rất hay. Nhưng có một chuyện buộc con chú ý.
Phim kể về người chồng đi chiến đấu, vợ ở nhà tham gia bảo vệ thành phố. Đêm nào cô gái Nga này cũng đi đào tuyết tìm người bị bom Đức giết hại, rồi chở đi chôn. Quá nửa đêm cô mới về đến nhà, thiếp đi trong giấc ngủ nặng nề, nhưng đêm nào cô ấy cũng mơ thấy chồng trở về. Thế rồi có một đêm cô đang mơ thấy chồng về, bỗng nghe có tiếng kẹt cửa. Như trong giấc mơ, người lính Xô viết quần áo bụi bặm dang tay ôm chặt cô gái vào lòng. Và cô gái òa khóc úp mặt vào bộ đồ ẩm mốc của người lính. Anh ta cười hà hà:
- Hôm ra mặt trận anh có đem theo chiếc chìa khóa nhà ta. Anh biết em làm việc khổ cực mong được ngủ yên dù một phút, một giờ, nên không muốn em phải thức dậy mở cửa cho anh...
Mệ cười:
- Rứa là con bắt chước người lính Xô viết ấy, bọc theo chìa khóa phải không?
Đông cười bẽn lẽn:
- Dạ. Bắt chước anh lính Xô viết ấy có chi sai đâu mạ! Con cũng sẽ mở cửa nhè nhẹ vô nhà cho vợ con ngủ yên lành.
Thế rồi, chiều đó cả tổ cùng đi tuyên truyền xung phong, đi diệt ác ôn. Mệ vét thùng gạo, nấu cháo chờ tụi nó, chờ thằng Đông. Mệ thao thức cả đêm cầu Trời Phật cho tụi nó an toàn, cầu cho thằng Đông sớm về Hà Nội để nhè nhẹ mở cửa buồng, ôm chặt vợ con mừng ngày gặp mặt.
Nhưng rồi thằng Đông hy sinh. Đau đớn quá. Sáng sớm anh em du kích khiêng về ba đứa, hai đứa quê ở xã và thằng Đông. Tụi nó bị phục kích nên không tránh kịp. Mệ lăn ra khóc như thương một đứa con ruột thịt. Anh em khuyên chi mệ cũng không ngừng khóc. Mệ kêu gào, trách Trời Phật không nhìn xuống. Răng mà để chết một đứa con trai dễ thương như vậy, đã chịu sống xa vợ trẻ, con dại bốn năm rồi mà lại không được trở về. Anh em cán bộ cơ sở bàn nhau đưa mệ về dưới làng nghỉ vài bữa, sợ ở đây mệ khóc hoài lộ hết điểm trú quân bí mật. Trước khi đi, mệ giao lại cho anh em chiếc chai màu nâu dặn bọc thật kỹ rồi chôn theo Đông. Mệ quên (mà làm sao lúc đó mệ nhớ được) lấy miếng giấy trong chai để ghi lại địa chỉ nhà vợ thằng Đông. Mệ đi cả tháng mới về, hỏi mộ ba đứa ở đâu, anh em cho biết: Hai anh em ở xã chôn trên đồi, còn Đông chôn ở gần cây vả. Cách một tuần, có kẻ chiêu hồi chỉ điểm nên địch kéo lên đây tìm dấu vết anh em mình. Các đồng chí du kích phải san bằng ba ngôi mộ mới để che mắt địch…
Giải phóng Huế được mươi ngày, mệ về lại xóm nhỏ. Cây cối gãy gục, nhà cửa tan hoang, chỉ có cây vả vẫn còn đứng yên nhưng bầm giập đầy mảnh bom đạn. Cháu con cất nhà lại cho mệ, nhà nước cấp tiền gia đình liệt sĩ để nuôi mệ. Công việc hằng ngày cứ trôi qua lặng lẽ.
Mệ chỉ buồn, bao nhiêu gia đình liệt sĩ đã vô đây tìm mộ cháu con. Riêng gia đình thằng Đông, không thấy vợ con nó đâu… Sao họ lại quên người chồng dễ thương như vậy? Mệ đâu còn địa chỉ vợ thằng Đông mà đi tìm. Cái khu Kim Liên rộng mênh mông biết đâu mà kiếm. Mệ không cho đưa Đông về nghĩa trang liệt sĩ vì có ý chờ gia đình. Hơn nữa biết chỗ mô mà đào lên. Chờ có gia đình chứng kiến, tìm luôn một thể.
Mệ nhờ mấy đứa cháu viết thư cho vợ thằng Đông theo địa chỉ đựng trong chai, nhưng thư đều bị trả lại vì không có người nhận, mệ áy náy muốn biết rõ sự thật, nên đầu năm nay quyết định đi Hà Nội. Anh em khuyên mệ ở nhà vì tuổi đã lớn, sức yếu, mà đường lại xa.
Mệ la lũ cháu con:
- Thằng Đông chết cho dân cho nước, tao không biết chịu cực để tìm gia đình hắn hay sao?
Cả nhà không dám nói thêm đành cử một đứa cháu ngoại là sinh viên đưa mệ đi.
Đến ga Hàng Cỏ, hai bà cháu thuê xe tắc xi về Kim Liên. Chẳng khó khăn lắm, đã tìm được ngôi nhà bốn tầng của Đông. Hai bà cháu leo lên tầng ba. Mệ cứ vừa leo vừa lẩm bẩm: “Không biết năm ni con thằng Đông lớn chừng mô rồi, vợ nó bây chừ còn đẹp như trong ảnh không? Gặp được mẹ con tụi nó thì mệ yên lòng lắm, mệ sẽ cải táng cho Đông về nghĩa trang thành phố...”.
Mệ đưa cho đứa cháu miếng giấy ghi số phòng của Đông. Hai bà cháu run lên vì xúc động: chữ 32 hiện rõ trên cánh cửa. Mệ lấy chiếc chìa khóa để so với ổ khóa nhà Đông. Mệ lạnh người. Ở đó là ổ khóa kiểu khác, không thể tra chiếc chìa khóa màu vàng.
Mệ gõ cửa. Một bà già bước ra:
- Có chuông sao bà không bấm mà phải gõ cửa...
Mệ xin lỗi, nói liền việc tìm vợ người liệt sĩ ở căn phòng này. Hai bà già dìu nhau vô ghế. Mệ khóc kể cho người bạn già tất cả chuyện về chiếc chai màu nâu, chiếc chìa khóa màu vàng.
Người bạn già cũng khóc sụt sùi và nói rằng bà ta không có liên quan gì với vợ người liệt sĩ ở nhà này, nhưng bà có biết chút ít:
- Tôi cũng ở trong khu tập thể này nên biết gia đình anh Đông. Sau khi được tin anh Đông hy sinh, vợ con anh ấy cũng khóc dữ lắm. Rồi hai năm sau cô ấy đi lấy chồng, một ông cũng làm to lắm. Họ không có con cái, rồi cũng chia tay nhau... Bây giờ thằng con lớn của anh Đông làm ăn ở bên Đức đã về đón mẹ sang đó năm năm nay. Họ bán căn hộ này cho tôi, nên tôi thay ổ khóa. Họ đi cũng chẳng có thư từ gì. Các thư gửi đến địa chỉ này tôi đều trả cho bưu điện, vì tôi không biết họ ở đâu.
- Thế vợ con nó không nói gì đến việc đi tìm mộ thằng Đông sao?
- Lúc đó chiến tranh... Còn sau này ở với ông cán bộ cao cấp thì làm sao mà dám đi tìm, ông ta ghen suốt ngày. Thằng con trai nhờ tiêu chuẩn liệt sĩ của bố nên được đi học nước ngoài... Vả lại nó nhỏ, biết gì đâu…
Mệ lại khóc: “Đông ơi, thế là hết. Người ta đã quên con rồi!”.
- Hay bà bác để chiếc lọ lại đây tôi giữ giùm, bao giờ mẹ con nó về, tôi đưa...
Mệ giật mình. Mẹ con nó đã quên người lính thì còn giữ kỷ niệm làm chi. Biết mô, nó lại ném vào một xó xỉnh nào đó thì tội nghiệp thằng Đông.
- Xin phép bà, mệ cháu tui về trong nớ. Tui đem cái chai của thằng Đông về Huế. Địa chỉ của tui đây, nếu mạ con hắn về bà đưa giùm. Thương chồng, nhớ cha thì tìm...
Thế rồi, các anh em ở ngành thương binh xã hội cũng biết tin này, đến xin mệ đưa Đông về chôn ở nghĩa trang liệt sĩ. Mệ bằng lòng, nói chôn luôn cái chai màu nâu đựng tấm hình, cái chìa khóa và tấm giấy ghi địa chỉ.
- Có ai nữa mô mà giữ...
Mệ dặn các anh ở tỉnh: “Là mạ hai đứa con đã hy sinh, lại là giao liên của huyện nên chắc mệ cũng sẽ được nằm ở nghĩa trang liệt sĩ khi trăm tuổi. Mệ mong được nằm cạnh thằng Đông để hắn ấm lòng...”.
Bây giờ ngày nào mệ cũng ngồi nhìn ra đường, chờ đợi. Mệ vẫn tin rằng có lúc hai người trong tấm hình thằng Đông đem theo sẽ tìm về xóm nhỏ này. Ai mà quên được người chiến sĩ dễ thương như rứa...
(1) Bà. (2) Gãy đổ. (3) Ảnh, hình. (4) Mẹ.
Đinh Phong