LTS: Trường Sơn – con đường huyền thoại, luôn là niềm tự hào của dân tộc ta, nguồn cảm hứng vô tận cho các văn nghệ sĩ. Nhà văn Minh Khoa, một trong số ít những nhà văn vượt Trường Sơn từ những ngày đầu con đường mới mở. Nhân dịp Báo SGGP tổ chức chương trình “Nghĩa tình Trường Sơn”, xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc tác phẩm “Đường trong mây” viết về những ngày vượt Trường Sơn, rút trong tập truyện “Những người hào kiệt” của nhà văn Minh Khoa.
Đoàn “Phương Đông” là một đoàn có quy mô cỡ lớn đầu tiên về Nam gồm khung bộ chỉ huy quân sự Miền và 5 quân khu B2 (Quân khu Sài Gòn - Gia Định, Quân khu miền Đông, Quân khu miền Trung, Quân khu miền Tây và cực Nam Trung bộ).
Đường mới mở nên đi vất vả vô cùng. Có đoạn phải bò, phải đu dây rừng như khỉ. Hoặc có lúc đi ven theo những vực thẳm nhìn xuống thấy hun hút đến chóng mặt mà lối đi chỉ vừa đủ chỗ đặt bàn chân nằm ngang.
Núi chồng lên núi, năm tầng bảy lớp, trùng trùng điệp điệp. Chúng tôi chui vào mây. Quả thật là đi trong mây. Tôi cảm thấy người nhẹ lâng lâng như mây. Mây trôi bồng bềnh quấn quít e ấp quanh mình, quanh chân. Tôi bốc một nắm mây rồi từ từ xòe bàn tay ra làn mây trắng vẫn nằm đấy ve vuốt mấy ngón tay man mát lành lạnh một cách dễ chịu. Người trước người sau cách nhau đôi bước mà chỉ trông thấy nhau thấp thoáng mờ mờ ảo ảo như các vị tiên đi trong mây.
(...) Lòng chúng tôi mừng khấp khởi nhưng cũng đầy lo âu. Sức lực dự trữ ngày một kiệt dần. Nhiều ngày qua phải ăn độn. Rau tàu bay cõng gạo. Hết gạo, hết rau tàu bay, cuối cùng món ăn chủ lực là măng rừng đầu mùa mưa.
Ăn măng rừng thay cơm.
Mỗi ngày, trên đường hành quân, từng tiểu đội phải cử một tổ, gặp măng là tạt ngay vào bìa rừng xắn những mụt măng không to, không nhỏ, lột vỏ, bứt mây xỏ xâu từng chuỗi như Sa Tăng quàng đầu lâu bồ đề theo Tam Tạng đi thỉnh kinh. Vừa nặng, vừa lích kích và còn phải lập tức rượt đuổi theo cho kịp đoàn quân. Mấy ngày đầu chưa kinh nghiệm, có người bị say măng nôn ọe, vọp bẻ tay chân nằm cứng đờ, sùi bọt mép, dễ sợ lắm. Măng luộc rồi phải bỏ đi vài ba nước đầu, nếu có thời gian luộc chín xong đem măng ngâm giữa dòng suối chảy cho trôi hết chất độc. Nhưng làm gì có thời gian sau 15 tiếng đồng hồ leo núi băng rừng mệt rã rời.
Tôi đang mơ mơ, màng màng, bỗng nghe có tiếng ồn ào xen lẫn tiếng heo kêu en éc.
Tôi bật dậy tưởng chừng như mình đang nằm mơ. Có bốn người đàn ông đang khiêng vào trạm một con heo to tướng, đi đầu là một cụ già gầy còm, tóc dài phủ lưng bạc trắng. Cụ cầm một cây lao mũi nhọn hoắt, sáng ngời. Họ đặt con heo nằm dưới đất theo lệnh của cụ. Tất cả chỉ đóng khố bằng một thứ vỏ cây rừng. Ông cụ chỉ con heo và nói một tràng dài tiếng dân tộc. Đại đội trưởng Đào Sơn Tây (*) bắt tay cụ và cụ chỉ cười và lắc đầu. Cười là để tỏ tình thân ái và lắc đầu vì không ai hiểu ai nói gì. Anh em chúng tôi bu lại, mỗi người nói vài tiếng “cố vấn” cho đại đội trưởng. (Hồi đó mỗi khung bộ tư lệnh quân khu gọi là đại đội).
- Đồng bào đem heo đến bán, quản lý Ninh, ông trả tiền sòng phẳng, không được trả rẻ đó nghe.
Quản lý Ninh lật đật mở chiếc sắc cốt lấy tiền. Anh trao cho ông cụ hai mươi ngàn đồng (tiền Sài Gòn hồi đó) ông cụ rụt tay lại tỏ vẻ không ưng. Quản lý Ninh tăng lên ba chục ngàn ông cụ vẫn lắc đầu. Quản lý Ninh luýnh quýnh đưa hết số tiền còn lại, vét cạn sắc cốt, được thêm năm ngàn nữa. Ông cụ gạt tay quản lý Ninh làm văng tung tóe những tờ giấy bạc. Những anh chàng khiêng heo lúc nãy đang tươi cười, bỗng nhiên xìu xuống. Ông cụ quát lên mấy tiếng rồi nhanh như cắt phóng ngọn lao vào giữa ức con heo. Con heo chết tốt. Mặt quản lý Ninh không còn chút máu. Mà cũng chẳng ai hiểu ra làm sao cả.
Bọn chúng tôi chưa một lần xài tiền Sài Gòn nên hoàn toàn mù mịt về giá trị.
Có người giục:
- Đi sang đại đội ba, vay thêm vài ngàn nữa đi. Con heo hơn một tạ, trả vậy họ không chịu đâu.
Quản lý Ninh ba chân bốn cẳng chạy đi vay tiền. Ông cụ rút ngọn lao ra khỏi ức con heo rồi ra hiệu rút lui. Con heo nằm một đống chình ình giữa sân, máu me lênh láng. Vừa lúc ấy, người trạm trưởng về đến. Ông cụ chạy lại bên anh. Hai người nói chuyện rối rít. Ông cụ cứ nắm lấy tay anh trạm trưởng không chịu rời.
Hình như họ quen nhau thân thiết lắm. Hai người nói tiếng dân tộc nên chúng tôi càng thêm sốt ruột về chuyện con heo và thái độ giận dữ của ông cụ.
Anh trạm trưởng quay lại nói với bốn anh thanh niên. Chúng tôi thấy họ khiêng con heo đi ra suối.
Anh em trở về võng tiu nghỉu. Thế là hết. Không có gạo và cũng không có thịt.
Tôi nằm co trên võng ỉu xìu, nghĩ lẩn quẩn đến cuộc hành quân ngày mai. Nghĩ đến bữa cơm toàn măng luộc chấm muối.
Sáng măng luộc, trưa măng luộc, chiều tối cũng luộc măng. Ăn đến ngày thứ mười, khi miếng măng chạm vào răng thì đã nổi da gà, xương sống ớn lạnh. Đến ngày thứ mười lăm, tức là nửa tháng ròng rã không có một hạt cơm hay củ khoai theo cầm lái thì hỡi ơi, leo đến đỉnh núi giữa trưa trời nắng chang chang ngửa mặt lên nhìn ông trời chỉ còn là một cục nghệ vàng đục không một ánh hào quang.
Có anh bạn cạnh võng của tôi ngủ mê mệt mà hai tay còn ôm cứng túi vải cột bên thắt lưng như sợ đánh rơi mất cục cơm vắt - người bạn đường thần diệu lúc hành quân.
Giữa rừng sâu núi thẳm này làm sao tìm ra gạo. Dù mỗi ngày chỉ ước có một chén cháo.
Sức người đâu phải là vô hạn.
Nỗi lo canh cánh bên lòng chúng tôi là làm sao về đến tận đất mũi Cà Mau (đại đội của tôi hầu hết là anh em đồng bằng sông Cửu Long).
Cục cơm vắt bên hông đã đi vào giấc ngủ từng người.
Bỗng đâu có tiếng gọi ầm ĩ:
- Gạo... gạo... tụi mày ơi!
- Đừng có xạo nghe mấy cha.
- Tao nói gạo là gạo.
Anh em đều sững sờ, khi nghe đến tiếng GẠO.
Giữa rừng già, đoàn chúng tôi không hề gặp một buôn làng nào, không đi qua một nương rẫy nào, làm sao có gạo? Gạo tìm đâu ra?
Thế mà, ngay chiều hôm đó, các tiểu đội mang ruột tượng lên nhận gạo. Mỗi người bảy cân. Bây giờ thì ai nấy đều tin là chuyện thật. Ôi tiếng gạo nghe ngọt ngào làm sao! Các cánh võng bị lật tung lên hết. Mấy ông bạn đang nằm chiêm bao giữa ban ngày thấy được ăn chè xôi nước, cũng lật đật nhảy chồm xuống đất, quên cả chén chè đang cầm trên tay, trong giấc mơ! Gạo có sức hút quái lạ.
***
(...) - Tôi là người Kinh, đồng chí ạ!
Anh cố nén để tiếng nói không run vì xúc động. Tôi bàng hoàng đến cực độ. Anh nói tiếng Kinh rành rọt, ngọt ngào. Lâu lắm rồi anh mới nói tiếng mẹ đẻ. Có lẽ anh sợ quên nên nói từng tiếng.
Anh cầm chén trà của Lưu Phước Anh uống một hơi, để nuốt hết hương vị trà miền Bắc. Nơi mà anh ngày đêm thương nhớ. Anh kể cho tôi nghe chuyện vợ anh bị bắt và chết trong tù để lại một cháu gái. Các đồng chí Tỉnh ủy đã gởi cháu ra miền Bắc nuôi dưỡng. Anh đưa cánh tay trần lên, gạt giọt nước đọng trên môi. Anh nói chậm rãi, gần như nói từng tiếng một:
- Đồng bà Tà Luông ở cách đây 3 ngọn núi. Nghe nói có bộ đội Cụ Hồ về ngang qua nên đã cử già làng (anh chỉ ông cụ già) mang đến biếu một con heo to nhất làn và gạo nữa…
Đại đội trưởng Đào Sơn Tây ôm chầm lấy ông cụ, hôn thắm thiết.
Trưởng trạm lại nói:
Ba Phum quanh đây là người làng Tà Luông làm rẫy đã ba mùa. Năm ngoái mất trắng, nhưng không ai chịu ăn gạo mà đi đào củ mài để ăn và nhất định dành gạo chờ anh bộ đội Cụ Hồ về.
***
(...) Tôi không rời anh trạm trưởng một bước. Tôi băn khoăn về cuộc đời của anh, về sự có mặt của anh ở chốn núi rừng heo hút này. Anh đến đây tự bao giờ?
- Vùng Tà Luông này - anh kể lại - người Kinh không tài nào đặt chân lên tới. Bọn Pháp cai trị gây chia rẽ đồng bào độc hại lắm! Chúng làm cho người Thượng nhìn người Kinh như nhìn con hổ dữ. Ngày hòa bình lập lại. Năm 1954 tôi là một trung đội phó một đơn vị cực Nam Trung bộ đang chuẩn bị tập kết ra miền Bắc thì nhận được lệnh ở lại. Công việc của tôi chỉ đơn lẻ một mình đi sâu vào Trường Sơn xây dựng cơ sở ở vùng Tà Luông này lập trạm giao liên nối một đoạn đường dây Bắc-Nam. Tôi mất ngủ luôn cả tuần. Thật tình mà nói, nhận lệnh Đảng mà lòng tôi hoang mang lo sợ. Vừa sợ chết, vừa sợ đã mất mạng mà không thể hoàn thành nhiệm vụ mới mẻ xa lạ với một chiến sĩ đồng bằng. Tôi không biết một tiếng Ê-Đê. Mình chưa nói được tiếng nào thì họ đã chặt đầu, đem nộp cho đồn để đổi lấy muối. Thằng giặc khuyến khích nạp đầu người Kinh bị giết thì thưởng gấp mười lần số cân muối hơn nạp một người còn sống nguyên vẹn.
Hôm tôi ra đi, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy giao cho tôi một cây rựa và một ống muối, căn dặn tôi một câu ngắn ngủi mà tôi ghi nhớ vào đầu:
- “Đồng chí đi làm một nhiệm vụ tưởng không có gì nhưng đồng chí sẽ là mạch máu nối tiếp cho máu chảy về tim”.
(...) Công việc đầu tiên là anh phải tìm ra cái ăn. Anh chọn một khoảng rừng nho nhỏ trồng bắp. Anh phá tre gai, đốn cây, kiên trì đến mức không để tiếng động vang xa. Có lúc đang canh chừng rẫy, phòng khỉ vượn hoặc heo rừng cắn phá bắp đang độ sắp thu hoạch thì nghe tiếng chân người. Anh bỏ chạy trốn vào bụi rậm vì sợ dân Tà Luông phát hiện. Anh biết mình phải tạo một dáng dấp bề ngoài của người Thượng. Dân làng Tà Luông có tập quán cà răng căng tai. Dái tai được nong to ra để đeo khuyên bạc to. Dái tai càng to càng được kính nể. Từ lúc bé, dái tai bị xâu thủng và nong ra, kích cỡ của que xỏ dái tai được thay dần to hơn. Có người dái tai căng ra mỏng tanh như tờ giấy, tưởng chừng búng nhẹ cũng rách te tua. Quá trình xỏ tai cũng không còn nguyên vẹn! Những dái tai bị xé toạc ra lòng thòng như những cục thịt thừa. Dân làng cho như vậy là có phúc. Lại thêm tục lệ khắc nghiệt và man rợ. Người dân làng Tà Luông không được để hàm răng cửa. Họ tin là để như vậy sẽ ăn thịt con cháu, nên ngay từ lúc nhú răng sữa là cha mẹ đứa bé đã phải lấy đá mài nhẵn những chiếc răng cho đến khi nào bằng với lợi răng mới thôi. Họ có trách nhiệm mài răng cho con hàng ngày. Họ sợ thần linh. Họ sợ con cái họ còn răng cửa sẽ ăn thịt người làng.
Anh không giấu sự lo lắng đến việc cà răng. Hàm răng của anh rất tốt, trắng bóc và đều đặn. Anh đã xâu tai, nhưng hàm răng này sẽ tố cáo chủ nó là người Kinh - một con cọp dữ không thể chung sống với người dân tộc - anh tính toán mãi nhưng rốt cuộc rồi anh cũng không thể mài được bộ răng cửa chắc chắn ấy, nên anh phải dùng đá đập gãy, ghè từng chiếc một. Miệng mồm, môi lợi của anh sưng vều lên, không ăn uống gì được nữa. Anh lên cơn sốt li bì.
Dần dà ngày tháng trôi qua, anh kiểm tra thân thể mình, qua dòng suối trong vắt. Anh đã trông thấy dáng dấp một người Thượng thật sự đang lặng lẽ nhìn anh. Nhưng vào lúc đó, anh vẫn chưa biết tiếng địa phương.
Bắt đầu sang mùa rẫy thứ ba, anh quyết định dời nương rẫy của mình đến sát bên nương rẫy của ông cụ già làng. Ông sống cô độc một mình, không con cháu và nương rẫy cách xa bản làng. Anh tìm cách giúp đỡ ông cụ. Anh làm cật lực và không nói một lời nào, giống như một người câm. Ông cụ cũng lầm lì, không lúc nào bắt chuyện với anh. Có khi đang cặm cụi tỉa bắp anh cảm thấy lành lạnh sau gáy và nhiều lần bắt gặp đôi mắt beo của ông cụ nhìn trộm mình. Một hôm ông cụ không may bị cây rừng đập gãy chân. Anh cõng ông về chòi của mình. Anh vốn là người lính chiến nên thông thạo việc cứu thương...
Mùa màng đang dở dang, anh làm công việc thay cho ông cụ. Một mình lo săn sóc cho cả hai nương ngô. Anh nuôi dưỡng ông cụ như cha đẻ của mình.
Cuối mùa rẫy năm ấy, ông cụ già làng đã biết được anh là ai và ông nhận anh làm con. Anh bắt đầu học tiếng Tà Luông, một thứ tiếng Ê-Đê, nhưng anh vẫn chưa dám giao lưu với những người ở các nương rẫy khác. Thỉnh thoảng, cũng có dân làng ghé qua thăm ông cụ. Họ nhìn anh bằng những đôi mắt dò xét. Rồi thì tình người cũng được đền đáp lại bằng tình người. Sau khi lành mạnh chính ông cụ già làng dẫn anh đi khắp bản làng Tà Luông thăm hỏi mọi người. Bắt đầu từ mùa rẫy thứ tư, dân làng đã nhận anh là người Tà Luông. Anh hướng dẫn đồng bào làm ăn tập thể, giữ vệ sinh và học chữ quốc ngữ.
Gần lúc chia tay tôi mới biết được tên người trạm trưởng. Anh tên là Nguyễn Sinh, người quê ở Khánh Hòa.
(...) Chúng tôi lên đường. Nguyễn Sinh vẫn đứng tại Cổng Trời. Bà con bản Tà Luông vây quanh anh. Đến lưng chừng dốc tôi quay lại nhìn lần cuối.
Anh vẫn đứng đó.
Con dao rựa trên tay.
Chiếc gùi sau lưng.
Hai vòng khuyên bạc to lủng lẳng trên vành tai căng rộng.
Chiếc khố nhỏ, bằng vỏ cây rừng.
Ôi! Một pho tượng tạc vào vách đá Trường Sơn hùng vĩ.
Dưới chân chúng tôi, núi chồng lên núi, trùng trùng, điệp điệp. Mây trắng bồng bềnh.
Đầu mùa mưa năm 1961
(Trích tập truyện “Những người hào kiệt” của Minh Khoa)
------------------
(*) Đào Sơn Tây sau này là thiếu tướng.