Tết này, Nhà giáo ưu tú, GS-TS Nguyễn Đức Dân bước vào độ tuổi “xưa nay hiếm”. Thế nhưng, hàng ngày ông vẫn miệt mài với công việc nghiên cứu và giảng dạy theo lời mời của các trường đại học khắp các tỉnh thành từ Bắc chí Nam. Nơi ông dường như chưa bao giờ có khái niệm ngơi nghỉ. Ông là người mực thước, điềm đạm, trầm mặc và ít chịu nói về mình. Vậy nên, ít ai ngờ rằng, cuộc đời ông đầy dẫy những bất ngờ...
-
Nhà ngôn ngữ xuất phát từ… toán học
GS-TS Nguyễn Đức Dân và “nội tướng” trong sinh nhật lần thứ 71. Ảnh: SONG PHẠM
Là tổ trưởng tổ toán ở Trường Bưởi – Chu Văn An, rồi các trường Trung Liệt, Đoàn Kết…, từng trực tiếp đứng lớp bồi dưỡng cho lớp chuyên toán đầu tiên của Hà Nội; là giáo viên toán phổ thông đầu tiên của miền Bắc được gửi đi nghiên cứu sinh tại Ba Lan; bảo vệ thành công luận án tiến sĩ chuyên ngành toán từ năm 34 tuổi; say mê các logic toán học, toán trong kinh tế, toán trong y khoa… thế nhưng khi về nước, GS-TS Nguyễn Đức Dân lại “được” phân công công tác tại… khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. “Thế đâm ra lại hay. Dùng các phương pháp toán học để nghiên cứu các vấn đề ngôn ngữ trong đời sống, tôi cảm thấy rất thú vị. Đó cũng là một cơ duyên!” – ông nói.
Là giáo sư đầu ngành trong lĩnh vực ngôn ngữ, không chỉ giảng dạy, ông còn luôn miệt mài với các công trình nghiên cứu chuyên ngành, liên ngành, đặc biệt, ông còn là một cây bút hết sức sắc sảo và kiên trì.
Không kể rất nhiều bài báo, chuyên đề in trên tạp chí ngôn ngữ trong và ngoài nước…, cho đến nay ông đã có gần 20 đầu sách riêng - chung giá trị như Từ điển tần số tiếng Việt xuất bản tại Pháp (Dictionnaire de Frequence du Vietnamien - Université de Paris VII, 1980); Ngôn ngữ học thống kê; Từ điển các từ tiếng Việt gốc Pháp (viết chung với GS Nguyễn Quảng Tuân); Tiếng Việt hội thoại - xuất bản tại Hàn Quốc; Logic & tiếng Việt; Logic-ngữ nghĩa & cú pháp; Nhập môn Logic hình thức, Lược sử Việt ngữ học, Ngữ dụng học…
Các công trình nghiên cứu, sưu tầm độc đáo, hấp dẫn của ông như Từ điển ngược – rất cần cho công việc nghiên cứu, giảng dạy và hữu ích cho những ai ham mê sáng tác văn học, thi ca; Nỗi oan thì, là, mà (NXB Trẻ 2001, tái bản 2003) là một trong những công trình khoa học nghiên cứu về hư từ rất mực gần gũi, dễ đi vào lòng người. Ngoài các công trình, các giáo trình thiết thực, nghiêm túc kể trên, ông còn sưu tầm, nghiên cứu và viết cả… truyện cười: Tiếng cười thế giới (tập I & II - viết chung với nhà báo Ngọc Hải) là một minh chứng.
Nhiều chục năm trôi qua, vậy mà khi nhắc đến ông, các đồng nghiệp vẫn còn nhớ công lao không nhỏ của ông trong vai trò kiến tạo quan hệ hợp tác đào tạo giữa Việt Nam với nước ngoài, là cầu nối giúp các đồng nghiệp đi sau tiếp bước xuất dương học hỏi, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy giữa trường đại học Paris VII và đại học Tổng hợp Hà Nội – khi ông được mời sang giảng dạy tiếng Việt và Văn minh Việt Nam tại Pháp vào những năm 1979 - 1980.
Ông còn nổi tiếng tận tụy, luôn hết lòng vì sinh viên. “Trong một buổi bảo vệ khóa luận tốt nghiệp, thầy đã rơi nước mắt trước một trường hợp đặc biệt vượt khó và bảo vệ thành công luận án. Thầy luôn đến lớp sớm hơn chúng tôi, bất kể trời mưa hay nắng. Đối với chúng tôi, thầy như một người cha…” – một cựu học trò của ông kể lại.
Năm 1979, trong thời gian giảng dạy tại Pháp, ông bị lưu Đảng vì tổ chức nghi ngờ ông có thái độ… che giấu thu nhập của đồng nghiệp tại đây. Sau một năm, ông được phục hồi đảng tịch, nhưng cái “oan án” ấy đã khiến một con người nhạy cảm như ông suy sụp một thời gian.
Năm 1986, Trường ĐH Tổng hợp Vacsava (Ba Lan) gửi thư mời đích danh ông sang giảng dạy, thế nhưng thay vì để ông đi, người ta lại… giành suất đó cho một người khác.
Chuyển công tác vào Trường ĐH Tổng hợp TPHCM năm 1986, tại đây, ông được phong Phó giáo sư, liên tục là Tổ trưởng tổ bộ môn Ngôn ngữ, khoa Ngữ văn-Báo chí, Phó chủ tịch Hội Ngôn ngữ học Việt Nam và được nhà nước phong Giáo sư năm 1996. “Công việc nghiên cứu giúp tôi không phải nghĩ ngợi quá lâu về bất cứ niềm vui hay nỗi buồn nào” – ông chia sẻ.
-
Giản dị một đời thầy
Sự nghiệp “trồng người” của ông trải suốt gần nửa thế kỷ. Cho đến giờ, khắp cả nước đều có học trò được ông đào tạo, dù là toán học hay ngữ văn, dù trực tiếp được ông giảng dạy hay chỉ được ông hướng dẫn làm đề án – nay trở thành những nhà nghiên cứu, giáo sư, tiến sĩ, nhà lãnh đạo, nhà báo tiếng tăm… Biết bao thế hệ sinh viên đã qua, thế nhưng khi nhắc đến bất cứ ai, ông đều nhớ rất rõ học lực, đặc điểm tính cách của từng người.
Và cho dù luôn dõi theo bước chân thành đạt của họ, ông không chịu nhắc cụ thể tên ai, chỉ nói giản dị: “Bất kỳ trò nào thành đạt, tôi đều mừng”. Gặng hỏi mãi, ông mới chịu tiết lộ danh tánh một người đang ở xa - một sinh viên người Hàn Quốc được ông hướng dẫn làm luận án tiến sĩ Ngôn ngữ học Việt Nam - anh Ahn Kyong Hwan - nay đã là một dịch giả rất nổi tiếng vì đã dịch và phổ biến các tác phẩm kinh điển như Truyện Kiều, Nhật ký trong tù… sang tiếng Hàn.
Ngoài giảng dạy và nghiên cứu, đam mê gần như duy nhất của GS-TS Nguyễn Đức Dân là môn thể thao bóng bàn. Ông là một tay vợt xuất sắc trong đội ngũ các nhà giáo lẫn sinh viên với những cú phát bóng dài ngoạn mục. Suốt mấy mươi năm, ông liên tục giữ được phong độ đỉnh cao, nhiều lần vô địch khối công nhân viên chức đại học với rất nhiều bằng khen, cờ thưởng, cúp… Mãi đến năm 69 tuổi, ông mới “chịu” nhận giải III trước các tay vợt trẻ. “Giờ đã 71 tuổi rồi, ngoài thời gian giảng dạy, viết sách, cứ chiều chiều là ổng lại xách vợt đi” – “hậu phương” của ông, cũng là một tiến sĩ ngôn ngữ, bà Trần Thị Ngọc Lang, trách yêu chồng.
“Ngay từ khi còn rất nhỏ, khoảng năm 1945, tôi đã được ông ngoại dạy bài Thu vịnh. Mỗi lần nghe tới đoạn “Một tiếng trên không ngỗng nước nào” là tôi lại lơ đãng phóng tầm mắt lên rặng tre um tùm lối vào cổng nhà cụ ngoại. Chiều chiều, qua những ngọn tre đó tôi thấy hàng đàn cò bay về tổ, nơi vườn chim nổi tiếng của nhà dì tôi. Từ cuối làng có con đường vắt qua cánh đồng Kênh lên Phú Đa – mà tôi hiểu là con đường ngang trong bài Vũng lội đường ngang. Nhưng nhiều kỷ niệm nhất đối với tôi là bài Thu điếu bởi câu “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” luôn đưa tôi về những hoài niệm.
Cái “ngõ trúc quanh co” nay đà biến mất, và cái “ao thu lạnh lẽo nước trong veo” trông không… hoành tráng nhưng cũng không buồn cười như hiện nay. Con ngõ trong bài thơ này là con ngõ rẽ từ trục chính đường làng, chừng 20 mét là đi vào đất gia tộc Nguyễn Khuyến…” – ông viết nhân ngày giỗ cụ Nguyễn Khuyến, nhân khu Di tích Lịch sử - Văn hóa của cụ ông được Nhà nước xếp hạng.
SONG PHẠM