Cùng với sự phục hồi của thảm thực vật, các loài động vật ở khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ (rừng Cần Giờ) theo đó cũng phát triển dần về số lượng loài và số lượng cá thể. Tuy nhiên, những nghiên cứu về sự biến đổi của các loài động vật ở đây còn chưa nhiều, nhất là đối với nhóm động vật bò sát và lưỡng cư. Mới đây, một đề tài nghiên cứu về lưỡng cư - bò sát tại rừng Cần Giờ đã đóng góp thêm nhiều thông tin khoa học hữu ích cho giải pháp phát triển bền vững rừng Cần Giờ.
Phát hiện thêm 9 loài lưỡng cư - bò sát
Động vật có xương sống ở cạn nói chung và lưỡng cư – bò sát nói riêng ở rừng Cần Giờ được tổng kết, đánh giá lần đầu tiên và cũng là duy nhất vào năm 1997 của tác giả Hoàng Đức Đạt, Viện Sinh học nhiệt đới với 9 loài lưỡng cư, 31 loài bò sát.
Tính đến nay đã 12 năm, hệ động vật lưỡng cư - bò sát rừng Cần Giờ vẫn chưa được đánh giá lại, trong khi môi trường trong khoảng thời gian này lại có nhiều biến đổi. Thêm vào đó, tên loài và hệ thống phân loại các loài cũng đã thay đổi rất nhiều.
Xuất phát từ thực tế này, anh Nguyễn Ngọc Sang, Viện Sinh học nhiệt đới, đã “liều” đăng ký với Sở Khoa học - Công nghệ (KH-CN) TPHCM thực hiện đề tài khoa học “Diễn biến đa dạng sinh học lưỡng cư - bò sát tại khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ”.
Ảnh 1
Ảnh 2
Ảnh 3
Loài nhông xám (ảnh 1), chàng xanh (ảnh 2) và rắn hổ hành (ảnh 3) là 3 trong số 9 loài mới được phát hiện tại rừng Cần Giờ. Ảnh: T.HÙNG
Đây là một đề tài hơi “chua” vì tài liệu tham khảo không nhiều, đi lại khó khăn… Thế nhưng sự quyết tâm đã giúp anh vượt qua mọi trở ngại, ròng rã 3 năm trời gắn bó với thằn lằn, rắn rít, cóc nhái, lội bùn vượt rừng… để hoàn thành đề tài bàn giao với Sở KH-CN.
Anh Sang cho biết, trong thời gian từ tháng 9-2006 đến tháng 3-2008, những người thực hiện đề tài đã tiến hành 5 cuộc khảo sát (mỗi cuộc khảo sát diễn ra 7 ngày và đêm) tại rừng ngập mặn Cần Giờ. Kết quả phát hiện thêm 9 loài lưỡng cư – bò sát mới: cóc nước mác ten, chàng xanh, thạch sùng lá đen, nhông xám, rắn roi mõm nhọn, rắn roi thường, rắn bông súng, rắn ráo thường, rắn hổ hành.
Kết quả nghiên cứu còn cho thấy, lưỡng cư – bò sát tại rừng Cần Giờ phân bố nhiều ở các vùng nước ngọt (54,3%), khu vực dân cư (43,5%), kế đến là khu vực nước mặn, đất cát ven biển và lưu vực cửa sông, ven bờ biển. Đặc biệt, nhóm nghiên cứu cũng đã thống kê có 30/46 loài lưỡng cư – bò sát tại rừng Cần Giờ có giá trị kinh tế, chiếm đến 65,2%.
Để có được kết quả này, anh Sang và những cộng sự đã phải ngày đêm quan sát, ghi hình, theo dõi các hoạt động dinh dưỡng, sinh sản, môi trường sống, thói quen của các loài lưỡng cư như ếch nhái, chàng hưu… đến rắn rít. Ban ngày nhóm đi chụp hình sinh cảnh, phỏng vấn các cán bộ kiểm lâm, người dân và chủ các điểm thu mua động vật bò sát trong khu vực.
3 loài bị biến mất
Theo đánh giá của tác giả, sự biến mất của các loài là dấu hiệu suy giảm đa dạng sinh học ở khu vực được nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy có 3 loài (rắn đai lớn, rắn ri cóc và cá sấu hoa cà) không còn hiện diện trong khu vực rừng Cần Giờ.
Thứ nhất, loài rắn ri cóc (tên khoa học Acrochordus javanicus) dần biến mất khỏi các thủy vực thiên nhiên ở Nam bộ nói chung và Cần Giờ nói riêng. Vào những năm 1970, đây được xem là loài rất phổ biến ở các vùng cửa sông Nam bộ, đặc biệt là các vùng kênh rạch. Đến năm 1997, loài này được ghi nhận “ít gặp”. Qua khảo sát, từ 2006 đến 2008, kết hợp với phỏng vấn cán bộ kiểm lâm, người dân địa phương và các cơ sở thu mua rắn ở Cần Giờ, nhóm nghiên cứu không ghi nhận được bất cứ thông tin gì về loài bò sát này trong 12 năm trở lại đây. Nguyên nhân chính là môi trường sống bị thu hẹp và ô nhiễm do những hoạt động của con người.
Thứ hai, cá sấu hoa cà (tên khoa học Crocodylus), loài có giá trị kinh tế cao bị săn bắt lấy thịt, da nên làm cho số lượng cá thể giảm sút nghiêm trọng. Kết quả khảo sát cũng cho thấy không có thông tin gì về loài cá sấu hoa cà tồn tại ngoài thiên nhiên Cần Giờ.
Loài thứ 3, được nhóm nghiên cứu gạt tên khỏi danh mục các loài lưỡng cư – bò sát Cần Giờ chính là rắn đai lớn, tên khoa học Cyclophiops major. “Theo tài liệu của tác giả Nguyễn Văn Sáng (2005) và Uetz P.et al. (2007)… loài rắn này ở nước ta chỉ phân bố ở phía Bắc (Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái, Vĩnh Phúc, Hà Tây) và cũng không được thu mẫu vào năm 1997 ở Cần Giờ. Có lẽ việc ghi nhận loài rắn này có ở Cần Giờ vào năm 1997 là một sự nhầm lẫn” - anh Sang lý giải.
Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng đưa ra cảnh báo về thực trạng giảm sút về số lượng của một số loài do tác động trực tiếp từ hoạt động săn bắt của con người và tác động của môi trường sống.
-
Để rừng Cần Giờ phát triển bền vững
Rừng Cần Giờ hiện đang được bảo vệ khá tốt, tạo sinh cảnh sống ổn định cho các loài động vật nói chung và lưỡng cư – bò sát nói riêng. Tuy nhiên, những kết quả phân tích từ đề tài khoa học trên cho thấy, hệ lưỡng cư – bò sát có giá trị kinh tế cũng như các loài động vật quý hiếm ở rừng Cần Giờ dần giảm sút hoặc mất đi là dấu hiệu của sự phát triển không bền vững.
Do đó, theo tác giả Nguyễn Ngọc Sang, lời giải cho bài toán “phát triển bền vững” rừng Cần Giờ là thực hiện đồng thời hai việc: bảo vệ để phục hồi các loài hiện có và tiến hành nuôi, phát triển một số loài có giá trị kinh tế phục vụ khai thác, sử dụng. Đối với công tác bảo vệ cần đẩy mạnh việc ngăn chặn các hoạt động săn bắt trong khu vực rừng Cần Giờ, các hoạt động thu mua thú rừng. Khi đẩy mạnh nuôi một số loài có giá trị kinh tế sẽ góp phần giảm sức ép khai thác từ thiên nhiên, đồng thời tạo sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và giải quyết việc làm cho người dân địa phương. Đặc biệt, hai loài mới được tác giả đề xuất nuôi thử nghiệm tại Cần Giờ là ếch cua và rắn séc be (rắn nước). Bởi hai “sản phẩm” này là đặc trưng cho khu vực rừng Cần Giờ.
Một vấn đề nữa mà tác giả khuyến cáo chính là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức về đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường cho người dân lẫn cán bộ kiểm lâm, nhân viên các khu du lịch trong khu vực rừng Cần Giờ.
KS Nguyễn Đình Cương, Chi cục Trưởng chi cục Kiểm lâm TPHCM cho biết, rừng Cần Giờ đã được công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới từ năm 2000 nhưng đến nay mới có một đề tài nghiên cứu về lưỡng cư – bò sát là quá khiêm tốn. Từ đề tài này, Sở KH - CN cần đưa ra nhiều đề tài nghiên cứu kỹ hơn để khảo sát, đánh giá, thống kê số lượng các loài, các cá thể động vật đang tồn tại ở rừng Cần Giờ, giúp cơ quan chức năng đưa ra các giải pháp quản lý tổng thể hơn.
THANH HÙNG
Những giai đoạn biến đổi của rừng ngập mặn Cần Giờ Từ năm 1911, người Pháp quy hoạch 4.500 ha rừng ngập mặn Cần Giờ để bảo vệ khí hậu Sài Gòn và chống gió bão, xói mòn đất. Phần còn lại được xem là rừng dự trữ để khai thác gỗ, củi. Chính do bị khai thác nên cấu trúc rừng và thành phần các loài thực vật ở đây đã bị thay đổi nhiều so với trước đó. Đến năm 1964, Mỹ đã bắt đầu chiến dịch hóa học bằng chất độc hóa học, sử dụng thuốc diệt cỏ. Từ 1965-1970, các đợt rải thuốc khai quang được tiến hành nhiều lần bằng máy bay làm cho hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ bị phá hủy gần như hoàn toàn. Những năm sau đó, rừng nơi này xem như đã thoái hóa hoàn toàn và trở nên nghèo kiệt. |