Nghề kim hoàn ở Đông Nam Á

Ông tổ là người Việt?

Ông tổ là người Việt?

Ông tổ nghề kim hoàn ở nước ta là ai? Tại sao thợ kim hoàn ở các tỉnh phía Bắc thì thờ tổ nghiệp là ba anh em họ Trần, nhưng TP Phan Thiết (tỉnh Bình Thuận) lại thờ ba anh em họ Huỳnh, còn các tỉnh Nam bộ lại thờ tổ sư họ Cao? Rồi ngày cúng tổ, có nơi cho là 7-2 Âm lịch, có nơi lại là 27-2 Âm lịch?

Riêng ở các tỉnh Nam bộ, hàng năm vào ngày 7-2 Âm lịch có trên 1.800 hội viên các hội mỹ nghệ kim hoàn tề tựu về Chợ Lớn để cúng giỗ tổ nghiệp. Quá trình lần tìm danh tính tổ sư nghề kim hoàn của Việt Nam đã hé mở những thông tin thú vị: rất có thể tổ nghiệp kim hoàn của các nước Đông Nam Á như Campuchia, Lào và Thái Lan... là người Việt Nam (?).

  • Hành trình của các tổ sư
Ông tổ là người Việt? ảnh 1

Mặt tiền của Lệ Châu Hội quán. Ảnh: NGUYỄN LINH GIANG

Nghề kim hoàn ở nước ta có từ bao giờ? Đó là một câu hỏi chưa có lời đáp rõ ràng. Tuy nhiên, lịch sử 300 năm trở lại đây của nghề này được sử sách ghi lại khá rõ. Ông Trần Văn Tư, Phó chủ tịch thường trực Hội Mỹ nghệ Kim hoàn TP Hồ Chí Minh, cho biết: Nghề kim hoàn có đệ nhất tổ sư Cao Đình Độ và đệ nhị tổ sư Cao Đình Hương. Hai ông được vua Khải Định năm thứ 9 và vua Bảo Đại năm thứ 13 sắc phong. Hiện hai sắc phong này còn được thờ ở Lệ Châu Hội quán (Chợ Lớn).

Sử sách còn lưu lại ở cố đô Huế ghi: ông Cao Đình Độ, sinh năm 1744, quê ở làng Cẩm Tú (tỉnh Thanh Hóa) vốn làm nghề thợ đồng. Vì mê nghề kim hoàn nên ông Độ đã giả làm người Trung Quốc để xin vào học nghề kim hoàn của một chủ tiệm người Hoa. Nhờ có chí và miệt mài học hỏi nên Cao Đình Độ đã thành danh với nghề chạm trổ trên vàng bạc. Về nhà, ông Độ truyền dạy nghề cho con là Cao Đình Hương, sinh năm 1773.

Năm 1783, hai cha con họ Cao bắt đầu cuộc hành trình vào Thuận Hóa (Thừa Thiên- Huế ngày nay) để truyền nghề cho hậu duệ. Vào đời vua Cảnh Thịnh (1790), hai cha con họ Cao được mời vào cung để lập Cơ vệ ngành Ngân tượng và làm đồ trang sức trong cung vua. Trải qua các đời của triều Nguyễn, hai cha con họ Cao được triều đình trọng dụng và các vua Nguyễn đã sắc phong là công thần khai sáng nghề kim hoàn của nước Việt.

Sau khi người cha là Cao Đình Độ qua đời (nhằm ngày 27-2 Âm lịch), người con là Cao Đình Hương sợ nghề kim hoàn mai một nếu ông chỉ quẩn quanh trong cung vua nên đã quyết định từ quan để ra ngoài cung tìm đệ tử truyền nghề. Lúc đó, Thượng thư Bộ lại Trần Minh và vợ là Huỳnh Thị Ngọc vì mến mộ tài năng của ông Hương nên đã mời ông về dạy nghề cho ba người con trai là Trần Hòa, Trần Điền, Trần Điện và ba người cháu là Huỳnh Quang, Huỳnh Bảo, Huỳnh Nhật.

Truyền nghề cho 6 đệ tử xong thì Cao Đình Hương qua đời. Ông mất ở Huế năm 1820, nhằm ngày 7-2 Âm lịch. Ghi công ông từng giữ chức Tổng lãnh binh, triều đình nhà Nguyễn đã cấp 3.000m2 đất, cho lập lăng để thờ, hiện lăng mộ ông vẫn còn ở Huế. Vì vậy, ở Huế, hàng năm có hai ngày cúng tổ là 7-2 Âm lịch (ngày ông Cao Đình Hương mất) và 27-2 Âm lịch (ngày ông Cao Đình Độ mất).

Theo lời thầy dặn, sáu đệ tử của ông Cao Đình Hương đã chia nhau làm hai hướng để truyền nghề kim hoàn trong thiên hạ. Ba anh em họ Trần ngược ra Bắc Hà, đến Thăng Long mở lò thợ bạc, thu nhận đệ tử. Ba anh em họ Huỳnh lại xuôi vào Nam. Đến Phan Thiết, do một người bị qua đời, hai người còn lại dừng chân luôn tại đây để mở lò dạy nghề. Do đó, thợ kim hoàn ở Phan Thiết xem ba anh em họ Huỳnh là tổ sư nghề kim hoàn. Được tin ba anh em họ Huỳnh dừng chân ở Phan Thiết, ba anh em họ Trần sau khi truyền nghề ở phía Bắc lại tiếp tục hành trình xuôi vào Nam và điểm dừng chân của họ là Chợ Lớn.

Anh em họ Trần đã mở lò thợ bạc, truyền nghề cho đệ tử khắp miền lục tỉnh. Tại Chợ Lớn, vì quá thương nhớ thầy và bạn đồng nghiệp nên anh em họ Trần đã lập một đền thờ lấy tên là “Lệ Châu Hội quán” (có nghĩa thương nhớ mà lã chã lệ châu rơi). Hàng năm, vào ngày 7-2 Âm lịch có 1.800 hội viên các hội mỹ nghệ kim hoàn khắp Nam bộ về đây giỗ tổ. Ông Hà Văn Mọc, 74 tuổi, là ông từ của Lệ Châu Hội quán hơn 10 năm nay, cho biết: Lệ Châu Hội quán được xây dựng năm 1892, trùng tu lần 1 vào năm 1934 và tính đến nay đã trùng tu 9 lần. Năm 1998, Bộ Văn hóa Thông tin đã cấp bằng chứng nhận nơi này là Di tích lịch sử cấp quốc gia.

  • Những điều cần minh xác thêm

Ông Trần Văn Tư, Phó Chủ tịch thường trực Hội Mỹ nghệ Kim hoàn TPHCM  kiêm Tổng thư ký Lệ Châu Hội quán, kể: Những thông tin về ông tổ nghề kim hoàn đã được chính ông tìm thấy ở Huế trong dịp đi xác minh, nhân kỷ niệm 300 năm Sài Gòn. Ngoài ra, có những thông tin thú vị cần được minh xác thêm. Theo lời ông Trần Văn Tư, vào năm 1950, ông và đoàn của Lệ Châu Hội quán sang Campuchia tham quan và đã phát hiện thợ bạc Campuchia cũng lấy ngày 7-2 Âm lịch làm ngày cúng tổ nghiệp nghề kim hoàn. Qua tìm hiểu của ông Tư thì hiện Lào và Thái Lan cũng lấy ngày 7-2 Âm lịch hàng năm cúng tổ nghiệp kim hoàn. Đây là sự tình cờ hay có nguyên gốc sâu xa?

Ông Lâm Văn Ca, một bậc cao niên trong nghề kim hoàn, kể: các bậc tiền bối họ Trần sau khi dừng chân ở Chợ Lớn và truyền nghề cho 36 lò thợ bạc ở đây lại tiếp tục cuộc hành trình truyền nghề thợ bạc xuống các tỉnh miền Tây, sau đó đi qua Nam Vang, Xiêm La… rồi mất ở đâu không ai rõ. Rất có thể những đệ tử của anh em họ Trần ở Campuchia, Lào và Thái Lan đã theo lời thầy mà lấy ngày 7-2 Âm lịch hàng năm làm ngày cúng tổ nghiệp kim hoàn và đây là một lời nhắn nhủ để tìm về tổ nghiệp sau này (?).

Ông Trần Văn Tư trăn trở: “Chúng tôi chưa có điều kiện để đi sang các nước bạn (Thái Lan, Campuchia, Lào) để xác minh thêm về tổ nghiệp nghề kim hoàn ở các nước. Thế nhưng, với những gì các bậc tiền bối kể lại và những thông tin chúng tôi nắm được thì có thể nói rằng, tổ nghiệp nghề kim hoàn nước Việt cũng là tổ nghiệp nghề kim hoàn của Campuchia, Lào và Thái Lan. Nếu được minh xác một cách chính thức thì đây là một điều rất có ý nghĩa, là cơ hội cho nghề kim hoàn trong khu vực gắn kết với nhau hơn, tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường kim hoàn quốc tế”.

NGUYỄN LINH GIANG

Tin cùng chuyên mục