Standard and Poor’s: Uy tín và trách nhiệm

Tổ chức đánh giá tín nhiệm quốc tế Standard and Poor’s là một công ty thuộc Tập đoàn McGraw-Hill, Inc. của Mỹ. Standard & Poor’s chuyên xuất bản các nghiên cứu về tài chính và cổ phiếu, trái phiếu là một trong ba công ty hàng đầu trong lĩnh vực kinh doanh này, cùng với Moody’s và Fitch Ratings.

Standard & Poor’s rất nổi tiếng với chỉ số S&P 500 ở Mỹ, chỉ số thị trường chứng khoán S&P/ASX ở Úc, chỉ số S&P/TSX ở Canada, và S&P/MIB ở Ấn Độ. Sản phẩm của Standard & Poor’s bao gồm các dịch vụ xếp hạng tín dụng, nghiên cứu vốn cổ phần, xếp hạng quỹ, giải pháp loại trừ rủi ro, dịch vụ quản chế doanh nghiệp, định giá, và các dịch vụ liên quan đến dữ liệu. Standard & Poor’s có công ty con là Capital IQ chuyên cung cấp giải pháp cho các tổ chức tài chính, công ty tư vấn, và doanh nghiệp.

Ai lập ra chỉ số Standard & Poor’s 500?

Cha đẻ của chỉ số này là nhà kinh tế học và doanh nhân người Mỹ tên là Alfred Cowles (1891-1984). Ông tốt nghiệp Đại học Yale danh tiếng năm 1913. Vào năm 1932, mối quan tâm hàng đầu của ông là làm sao đưa kinh tế học trở thành môn khoa học có độ chính xác cao hơn nhờ sử dụng phương pháp thống kê và toán học.

Từ kinh nghiệm của chính mình trong lĩnh vực tư vấn đầu tư, cộng với việc mất niềm tin vào phương pháp “trò chơi dự đoán” sử dụng trong việc dự báo thị trường chứng khoán, ông cho rằng nghiên cứu mang tính học thuật của các chuyên gia có thể mang lại những phương pháp ưu việt hơn.

Từ đó, các nhà nghiên cứu kinh tế và toán học thuộc Quỹ Cowles đã tập trung xây dựng các công thức và áp dụng phương pháp định lượng vào việc dự báo phân tích kinh tế. Những nỗ lực lớn lao của Quỹ Cowles đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của môn toán kinh tế. Hầu hết sách giáo khoa về kinh tế đã phải viết lại sau thành công của các nhà khoa học thuộc Quỹ Cowles.

Năm 1938, rất cần một công cụ đo lường, Cowles nghiên cứu để cho ra một loại chỉ số thị trường, về sau chỉ số này là nền tảng cho chỉ số Standard & Poor’s 500 ngày nay. Mục đích nhằm xây dựng một chỉ số cho thị trường chứng khoán, chỉ số này thể hiện kinh nghiệm quá khứ thông thường của các nhà đầu tư chứng khoán.

Bằng một nỗ lực rất lớn, Cowles đã tập hợp khoảng 12 ngàn thư diễn đạt các kinh nghiệm cá nhân và tất cả  giao dịch trong vòng 4 năm của 20 công ty hàng đầu trong lĩnh vực bảo hiểm hỏa hoạn để nghiên cứu. Sau đó, ông mở rộng nghiên cứu của mình về dữ liệu trên thị trường chứng khoán, và đã nhận ra “bước ngẫu nhiên” (random walk) trong biến động giá của các cổ phiếu. Đó chính là điểm khởi đầu cho giả thuyết Thị trường Hiệu quả (Efficient Market Hypothesis).

Vào năm 1944, Cowles tiếp tục công bố kết quả nghiên cứu tiếp theo. Trong quá trình nghiên cứu về sau này, ông đã tập hợp 6.900 bài dự báo thị trường trong suốt 15 năm. Ông đưa ra kết luận rằng không có bằng chứng nào chứng minh cho khả năng của các dự báo gia trong việc tiên đoán tương lai thị trường. Một loạt nghiên cứu của ông mở đầu cho hơn 200 công trình nghiên cứu cùng lĩnh vực sau này.

Quỹ Cowles

Năm 1932, Cowles lập ra Hội đồng Nghiên cứu Kinh tế Cowles với phương châm “Khoa học là đo lường”. Đến năm 1939, Hội đồng Cowles được chuyển vào trực thuộc Đại học Chicago. Đầu những năm 1950, do nhiều người trong Khoa Kinh tế ĐH Chicago không ưa Hội đồng Cowles, Giám đốc hội đồng lúc đó là Tjalling Koopmans đã chuyển hội đồng về Đại học Yale và mang tên mới là Quỹ Cowles.

Nhiều thành viên Quỹ Cowles đã đoạt giải Nobel nhờ những nghiên cứu thực hiện tại quỹ này, bao gồm các nhà kinh tế Tjalling Koopmans, Kenneth Arrow, Gerard Debreu, James Tobin, Franco Modigliani, Herbert Simon, Lawrence Klein, Trygve Haavelmo và Harry Markowitz. Danh tiếng của Standard and Poor’s cũng được gầy dựng bền vững từ đó đến nay.

THỤY NGUYỄN tổng hợp

Tin cùng chuyên mục