“Cơn lũ” giá dầu và khả năng “ngập úng” nền kinh tế

Việc cơn lũ giá dầu mấp mé ngưỡng 100 USD/thùng (tính đến ngày 12-11-2007) cho thấy ít nhất ba yếu tố tiềm ẩn: 1- Nguy cơ khủng hoảng năng lượng (chắc chắn!); 2- Nguy cơ lạm phát; 3- Nguy cơ suy thoái kinh tế. Giá hàng hóa đang tăng là một trong những biểu hiện rõ nhất của ảnh hưởng từ giá dầu tăng...

Nhu cầu tăng nhanh khiến giá bị “đội”

Giao dịch tại thị trường New York Mercantile Exchange vào thứ năm 8-11-2007, khi giá dầu thô ở mức 95,46 USD/thùng.

Nhu cầu dầu toàn cầu đã tăng từ 66,2 triệu thùng/ngày (bpd) năm 1990 lên 79,7 triệu bpd năm 2003 và hiện ở mức 85,6 triệu bpd (CNN 6-11-2007). Nhu cầu tăng hàng năm đã vọt từ 900.000 bpd lên 13,5 triệu bpd trong không đầy 15 năm qua.

Chỉ riêng năm 2003, nhu cầu dầu đã tăng trung bình 1,4 triệu bpd. Trung Quốc là một trong những động lực chính đằng sau tỷ lệ tăng nhu cầu dầu hàng năm. Năm 2003, Trung Quốc ngốn 6,4 triệu bpd, so với 2,4 triệu bpd năm 1990.

Trong khi đó, các nước thuộc Liên Xô cũ chỉ dùng 3,2 triệu bpd năm 2003, so với 8,4 triệu bpd năm 1990. Mỹ cũng là nước đốt nhiên liệu nhiều nhất thế giới. Hiện tại, Mỹ nhập khẩu 6/10 thùng dầu và 2/10m3 khí đốt mà họ sử dụng.

Theo dự báo, đến năm 2020, Mỹ phải nhập 8/10 thùng dầu và 4/10m3 khí đốt. Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA) cho biết đến năm 2030, xuất lượng dầu có thể lên đến 100 triệu bpd nhưng nhu cầu thế giới lúc đó là 120 triệu bpd. Nhu cầu dầu thế giới tăng trung bình 2,2 triệu bpd vào năm 2008 so với 1,5 triệu bpd trong năm 2007 – theo IEA.

Toàn cảnh, nhu cầu dầu chắc chắn ngày càng tăng trong khi nguồn khai thác có hạn. Với châu Á – nơi đang dẫn đầu thế giới về tốc độ phát triển kinh tế, đây chẳng là tin đáng để khui champagne. Trừ vùng Trung Đông, châu Á chỉ sản xuất được 10% nguồn cung cấp dầu thế giới nhưng khu vực này đang ngốn 1/4 năng lượng toàn cầu.

Thậm chí với vài nước vốn mạnh về xuất khẩu dầu như Malaysia, tình hình bắt đầu chuyển sang gam màu u ám. Malaysia chi khoảng 2,4 tỷ USD/năm để trợ cấp công nghiệp dầu nhằm bình ổn giá nhiên liệu trong nước.

Tuy nhiên, Chính phủ Malaysia không thể tiếp tục gồng mãi và mới đây họ đã tuyên bố giảm trợ cấp cho công nghiệp dầu. Nghiên cứu IEA phối hợp Tổ chức phát triển và hợp tác kinh tế (OECD) cùng Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cho thấy chỉ 10 USD tăng trong giá mỗi thùng dầu (giá hiện tại gần 50 USD/thùng), kinh tế châu Á sẽ gánh chịu nhiều thiệt hại.

GDP châu Á – trong năm đầu tiên bị ảnh hưởng từ giá dầu tăng – sẽ giảm 0,8% điểm so với 0,4% các quốc gia OECD. Tất nhiên đó là tỷ lệ trung bình. Cụ thể, từng nước sẽ chịu ảnh hưởng khác nhau. Thái Lan sẽ mất 1,8% trong GDP; Philippines 1,6%; Trung Quốc 0,8%; Malaysia 0,4%…

Khả năng lạm phát như thế nào?

Dầu là thứ hàng hóa đặc biệt cực kỳ nhạy cảm với chính trị. Tình trạng bất ổn Iraq, khả năng Mỹ tấn công Iran và nguy cơ cuộc chiến Thổ Nhĩ Kỳ tại Bắc Iraq… đều ít nhiều gây ảnh hưởng cho mũi tên đi lên của giá dầu.

Đó là chưa kể bất ổn nội bộ chính trị Venezuela với sự chia rẽ giữa nhóm ủng hộ Tổng thống Hugo Chavez và nhóm đối nghịch (dầu Venezuela chiếm 14% trong tổng nhập khẩu dầu của Mỹ và chiếm 8% trong xuất lượng OPEC).

Trong khi đó, chỉ cần một tỷ lệ cực nhỏ giảm trong xuất lượng dầu, chẳng hạn giảm 1 triệu bpd – và chỉ tại ba quốc gia Saudi Arabia, Nga và Venezuela – giá dầu thế giới sẽ vọt lên khoảng trên dưới 10 USD/thùng! Trong thực tế, việc giá dầu tăng gắn liền với lạm phát không là chuyện mới, như thời điểm sau sự kiện cuộc cách mạng Hồi giáo Iran 1979 (lúc đó, giá dầu tăng lên mức tương đương 101,7 USD/thùng theo thời giá hiện nay – New York Times 9-11-2007).

Nước càng có tốc độ phát triển nhanh – chẳng hạn Trung Quốc và Việt Nam – ảnh hưởng từ giá dầu tăng sẽ càng nghiêm trọng. Với Trung Quốc, nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới, hiện tượng giá dầu tăng khiến giá hàng hóa leo thang cũng làm kinh tế nước này đi vào cơn lốc lạm phát.

Shanghai Daily (9-11-2007) cho biết tỷ lệ lạm phát 6,2% của Trung Quốc vào tháng 9-2007 là gần mức kỷ lục cách đây 10 năm – theo ông Vương Tân Bồi (Wang Xinpei, phát ngôn viên Bộ thương mại Trung Quốc). Trung bình, nước đang phát triển (và phải nhập khẩu dầu) dùng gấp đôi lượng dầu để sản xuất một đơn vị xuất lượng kinh tế (unit of economic output) so với nước đã phát triển – theo IEA.

Chẳng hạn Ấn Độ, họ đang dùng hơn 2½ lượng dầu so với các nước đã phát triển. Nhập khẩu dầu tốn ngân sách Ấn Độ 15 tỷ USD/năm (3% GDP năm 2003).

Theo nghiên cứu của kinh tế gia Cyn-Young Park thuộc Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), ảnh hưởng trực tiếp đầu tiên của việc tăng 10 USD trong giá mỗi thùng dầu đối với châu Á là cán cân thương mại, do sự điều chỉnh cân đối giữa giá sản xuất và giá xuất khẩu. Và nếu giá dầu tiếp tục phóng nước đại, sẽ ảnh hưởng toàn diện đời sống người dân châu Á.

Lạm phát có thể vọt hơn 1%, thu nhập mất 0,8% - tức khoảng 28,8 tỷ USD (trừ Nhật). Cũng theo nghiên cứu của Cyn-Young Park, sự biến động trong kinh tế châu Á do ảnh hưởng giá dầu còn khiến tỷ lệ đầu tư nước ngoài giảm – ít nhất trong thời gian ngắn hạn.

Xin nhấn mạnh, việc giá dầu nhích lên gần 50 USD/thùng cách đây vài năm từng được xem là kỷ lục. Ngân hàng HSBC tính rằng giá dầu 50 USD/thùng là đắt hơn 136% so với năm 2001.

Tại nước ta, lạm phát đang là đề tài thời sự nóng. Hạ tuần tháng 10-2007, Tổng cục Thống kê từng cho biết chỉ số giá đã tăng 9,34%. Giá thực phẩm – chiếm hơn 40% giá các loại hàng hóa được tính tỷ lệ lạm phát – đã tăng 13,94% vào tháng 10-2007 (giá gạo và các loại lương thực khác tăng 15,98%; giá thép và xi măng tăng 11,72% trong cùng thời gian).

Giải thích sự “tương ứng” giữa giá hàng hóa và giá dầu tại Việt Nam cũng như nhiều nước khu vực, Jonathan Pincus – kinh tế gia thuộc Chương trình phát triển LHQ – nói: “Giá gạo toàn cầu đang tăng là do giá dầu tăng, bởi nông dân luôn cần phân bón trong khi phân là một sản phẩm từ dầu thô”.

Cho đến thượng tuần tháng 11-2007, Chính phủ vẫn duy trì chính sách bình ổn giá xăng để tránh thị trường đẩy nhanh tốc độ lạm phát. Tuy nhiên, nếu giá dầu thế giới tiếp tục dâng cao như cơn lũ không thể kiểm soát, thị trường xăng Việt Nam chắc chắn sẽ phải có sự điều chỉnh tương ứng (mức giá xăng Mogas 92 hiện là 11.300 đồng/lít; so với 8.800 đồng/lít thời điểm tháng 7-2005).

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh, bản thân giá dầu không là yếu tố duy nhất có thể gây ảnh hưởng kinh tế. Thậm chí ở đỉnh giá như hiện nay, dầu thô vẫn rẻ hơn nước đóng chai nhập khẩu (180 USD/thùng) hoặc sữa (150 USD/thùng).

Vấn đề ở chỗ, ngành năng lượng nói riêng và chính sách nhà nước nói chung sẽ đối phó với mức tăng giá nhiên liệu (không thể tránh khỏi, như được dự báo) theo cách như thế nào cho mục tiêu phát triển dài hạn – theo Linda Z. Cook, thành viên ban giám đốc Tập đoàn Dầu khí Royal Dutch Shell. Và sự “đối phó” như vậy chỉ có thể nằm ở một chính sách tổng quát trong tổng thể lộ trình phát triển kinh tế ở cấp vĩ mô.

Nước Mỹ điều chỉnh “đời sống với dầu” như thế nào?

Tại Mỹ, năm 1973, mỗi 1.000 USD trong GDP cần 2,4 thùng dầu; năm 1981, lượng dầu tiêu thụ tại Mỹ là khoảng 5,87 tỷ thùng và GDP đạt khoảng 5,2 tỷ USD (tức một thùng dầu sản sinh được 902,86 USD trong GDP); năm 2005 là khoảng 7,5 tỷ thùng so với hơn 11 ngàn tỷ USD trong GDP (tức một thùng dầu sản sinh được 1.456 USD trong GDP).

Nhiều nhà phân tích cho rằng, cơn sốt giá dầu lần này sẽ không thật sự ảnh hưởng nghiêm trọng đến Mỹ bởi kinh tế nước này đã chuẩn bị cho khả năng trên – theo kinh tế gia Chris Lafakis thuộc hãng tư vấn kinh tế Moody’s.

Năm 1981, gần 14% GDP Mỹ dành cho năng lượng; năm 2006, tỷ lệ trên chỉ còn 9% - theo Cơ quan quản lý thông tin năng lượng Hoa Kỳ (EIA). Tính hiệu quả trong sử dụng năng lượng đóng vai trò quan trọng trong sự thay đổi trên.

Năm 1980, một người Mỹ trung bình cần làm việc 105 phút để mua đủ xăng cho đoạn đường 100 dặm; nay họ chỉ cần làm việc 52 phút.

Năm 2006, người Mỹ chi 6% thu nhập cho năng lượng (nói chung); năm 1981, họ phải chi đến 8%. Hiện Mỹ dùng xăng-dầu chủ yếu cho giao thông; trước thập niên 70, gần 1/4 điện năng nước này được sản xuất từ dầu… 

Mạnh Kim

Các tin, bài viết khác