Cuộc trường chinh chống Mỹ cứu nước của dân tộc đã đi qua 30 năm nhưng âm vang của cuộc chiến thần thánh này vẫn còn dằng dặc mãi không thôi. Có nhiều chuyện hay như tiểu thuyết vẫn còn rì rào cùng năm tháng. Tôi may mắn biết một trong những chuyện như thế, ấy là số phận một lá thư gửi trong thời chiến nhưng tròn vạnh 36 năm sau người nhận mới nhận được.
-
Tóc bạc nhận thư thuở xuân xanh
Vợ chồng ông Sanh cùng cô con gái út.
Vào trung tuần tháng 9-2003, đại diện tổ chức “Cựu chiến binh Mỹ tham chiến ở Việt Nam” (VVA) thăm Đà Nẵng đã trao cho cơ quan hữu quan Việt Nam 2 lá thư của một chiến sĩ cách mạng từ chiến trường miền Nam gửi ra hậu phương miền Bắc 36 năm về trước. Mẫu thông tin của VVA có số lưu trữ 267, là lá thư lấy được trên thi thể của một chiến sĩ, thời gian viết vào khoảng năm 1967-1968 tại một địa điểm cách Đà Nẵng chừng 50 dặm về phía Tây Nam. Trên góc trái bì thư đề “354 Thanh Khiết”, bên phải phía dưới ghi người nhận là Nguyễn Thị Khánh, Trường Thể thao Quốc phòng, Xuân Mai, Hà Tây...
Ông Nguyễn Xuân Sanh - hiện trú tại số nhà 73 Trưng Nữ Vương, thành phố Đà Nẵng rất xúc động khi bất ngờ nhận 2 lá thư của mình gửi đi từ chiến trường Trung bộ 36 năm trước. Người viết 2 lá thư nay tóc đã bạc, người nhận thư cũng không còn xuân xanh, hai ông bà sống với nhau kể từ ngày đất nước thống nhất. Chiến sĩ Xuân Sanh nay đã bước sang tuổi 62, còn cô Khánh cũng đã vào tuổi 59. Thế mà cho đến tận bây giờ, cô Khánh mới nhận được lá thư tình của anh Xuân Sanh gửi cho mình cách đây 36 năm tròn.
Ông Sanh nói như reo khi xem lại lá thư của mình qua bản phô tô chúng tôi đem đến: “Đúng rồi, chữ của mình đây, chữ của mình đây” và đọc cho vợ nghe những dòng thư mà mình đã viết năm xưa: “...Khánh em thân yêu! Giờ này em đang làm gì, em nhận thư anh vào lúc đang luyện tập, lúc lên lớp hay đang nghỉ trưa, giờ này em có nghĩ đến anh không nhỉ? Thế em có biết anh đang làm gì không, anh đang sống giữa chiến trường miền Nam, xung quanh là quân giặc, loài mặt người dạ thú đang ngày đêm tìm cách giết hại dân lành nhưng tính mạng của chúng chẳng được bao lâu nữa, ngày chiến thắng, ngày sum họp sắp đến với chúng ta... - Anh Sanh ngày 20-9-67”.
Ông đọc giọng run run, còn bà mỉm cười bẻn lẻn rồi bồi hồi kể, hồi đó hai người quen nhau chỉ trong thời gian ngắn khi ông lên Trường Thể thao Quốc phòng (Xuân Mai, Hà Tây) học tập, đó là vào năm 1962. Được một thời gian, ông nhận lệnh vào Nam chiến đấu, từ đó hai người bặt tin nhau mãi đến năm 1974 mới gặp lại. Suốt khoảng thời gian dằng dặc mười mấy năm xa ngái, cô gái Hà Tây vẫn một lòng đợi chờ người trai Quảng Bình.
Hình như thấu được sự da diết chờ đợi của người ở hậu phương mà trong thư ông Sanh có đoạn: “...Tuy anh ở xa nhưng anh vẫn biết được các sinh hoạt của em... Anh ở xa nhưng có đồng chí anh ở gần em và cung cấp tình hình cho anh. Anh vẫn sống mạnh khỏe, công tác và chiến đấu tốt, ngày thống nhất anh sẽ trở về với em, nếu em không đợi được đến ngày ấy thì anh cũng không trách em đâu, em cứ suy nghĩ và hành động theo ý nghĩ của em...”. Bà Khánh kể, những lá thư ông viết hầu như bà không nhận được do chiến tranh nhưng như có linh tính mách bảo nên bà vẫn hy vọng và đợi chờ ngày ông trở về. Bà xem những kỷ vật ông để lại như lời đính ước nên tuyệt đối tin sẽ có ngày đoàn viên.
Lá thư thứ hai anh lính Xuân Sanh gửi cho người mẹ già với những dòng đầy day dứt: “...Con chuẩn bị lên đường nhập ngũ, có những đêm con trằn trọc không ngủ. Con còn nhớ mãi ngày ấy, mẹ đứng ở cổng Tỉnh đội tiễn con mà hai hàng nước mắt mẹ cứ chảy ròng ròng, con không dám nhìn mẹ, con sợ con lại không cầm được nước mắt, ngày ấy đến nay đã 4 năm mà con mãi không quên...”.
-
Hạnh phúc từ trong khói lửa
Bức thư ông Sanh gửi từ 36 năm trước.
Bà Nguyễn Thị Khánh từng là nữ VĐV bắn súng. Khi học tại Trường Thể thao Quốc phòng, bà cùng đoàn thể thao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham dự đại hội thể thao GANEPO ở Indonesia năm 1963. Đến năm 1966, bà được chọn thi đấu tại đại hội thể thao GANEPO ở Campuchia và giành HCB cá nhân, HCĐ đồng đội môn bắn súng. Dẫu đi đâu, ở phương trời nào thì trái tim của cô gái Hà Tây quê lụa mới ngoài đôi mươi vẫn chỉ mang hình bóng một người. Bà kể: Năm 1974, có người báo “người yêu mày về đấy!” nhưng bà không tin, cứ tưởng người ta thấy mình đợi chờ mòn mỏi nên đùa nhưng ông về thật, bà ôm chầm người yêu khóc ròng. Ngày đó, anh Xuân Sanh được gọi từ chiến trường miền Nam ra Hà Nội học khóa huấn luyện dành cho cán bộ trung cao cấp của lực lượng đặc công để chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng miền Nam.
Câu chuyện về những lá thư tình gửi ra từ chiến trường được nhắc lại nhưng cũng chóng nguôi ngoai giữa niềm vui gặp mặt. Anh lính Xuân Sanh cảm động đến nghẹn lòng khi biết những lá thư đầy ắp thương yêu và khói súng của mình suốt hàng chục năm không hề đến được tay người yêu ở hậu phương nhưng người yêu vẫn kiên gan chung thủy. Ngày 2-9-1974, Bộ Tư lệnh Đặc công đã tổ chức đám cưới cho hai người. Có một kỷ niệm vui, sau đám cưới, trộm đã viếng thăm nhà đôi vợ chồng trẻ và lấy đi những tấm ảnh cưới nên bây giờ không còn tấm ảnh nào cho con cháu xem. Niềm vui chưa kịp bén hơi, người vợ trẻ lại phải tiễn chồng lên đường ra trận khi đứa con đầu chưa kịp chào đời. Lại thêm những năm tháng thắt lòng vọng phu đến ngày giải phóng.
Đất nước giải phóng, năm 1978, ông Xuân Sanh được điều vào công tác tại Sở TDTT tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ). Theo chồng vào mảnh đất miền Trung, bà Khánh nghĩ đã hết xa cách, chấm dứt đợi chờ nhưng cuối năm 1978, ông Sanh lại nhận lệnh lên đường sang Campuchia làm nhiệm vụ quốc tế 6 năm. Bà lại một mình ôm con ngóng chồng đến tận năm 1984 mới đón ông vai mang ba lô trở về đầu ngõ, cùng nhau đoàn tụ cho mãi đến hôm nay.
-
Còn đó day dứt
Quay lại hành trình của lá thư tình 36 năm về trước, người lính già Xuân Sanh đau đáu kể về người bạn đã hy sinh của mình: Chiến sĩ ấy tên Nguyễn Văn Sơn, quê Thái Thụy, Thái Bình. Hồi ấy, đồng chí Sơn là lính của Đội Đặc công nước Đoàn 126 Hải quân, do thiếu úy Nguyễn Xuân Sanh làm đội trưởng. Ký hiệu “354 Thanh Khiết” ở đầu thư là bí số riêng của thiếu úy Sanh (thư gửi thời chiến đều không ghi địa chỉ người gửi mà chỉ dùng ký hiệu – TG).
Khi ấy, đơn vị đang đóng quân tại thôn 1, Điện Ngọc (Điện Bàn - Quảng Nam), nhân dịp đồng chí Sơn ra Bắc, ông Sanh đã viết thư nhờ đồng đội chuyển giúp. Thư gửi đi nhưng chẳng thấy hồi âm. Mãi đến ngày giải phóng, ông Sanh mới biết trên đường ra Bắc, đồng chí Sơn đã hy sinh và hai lá thư của mình đã rơi vào tay lính Mỹ. Mãi 36 năm sau, ông mới tìm được nó, rưng rưng đọc cho người yêu – người vợ khi cả hai mái đầu đã không còn xanh. Bây giờ, điều ông day dứt nhất là làm sao tìm được hài cốt liệt sĩ Nguyễn Văn Sơn.
NAM DƯƠNG-GIA NGỌC