Không nơi nào không thấy tiếng Anh. Khoảng 300 triệu người đang dùng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ nhất và 2/3 người dùng nó như ngôn ngữ thứ hai. Một tỉ người đang học tiếng Anh và khoảng1/3 dân số thế giới bắt đầu quen nghe và quen thấy việc sử dụng tiếng Anh. Theo dự báo, phân nửa dân số thế giới sẽ ít nhiều thông thạo tiếng Anh vào trước năm 2050. Nó là ngôn ngữ toàn cầu, thứ tiếng của doanh nghiệp, của chính trị và của ngoại giao. Nó là “tiếng mẹ đẻ” của ngôn ngữ máy tính và Internet. Sự phổ biến của tiếng Anh là sự thật không thể phủ nhận. Tuy nhiên, sự thật này trong vài trường hợp đã trở thành một “thực trạng” mang tính xã hội…
-
Ảnh hưởng của toàn cầu hóa
Học tiếng Anh là điều nên cổ súy nhưng dùng bừa bãi (và sai) tiếng Anh là điều không nên.
Có thể dễ dàng nhìn thấy vài nguyên nhân khiến tiếng Anh nhanh chóng trở thành ngôn ngữ toàn cầu. Một trong những lý do nổi cộm nhất là xu hướng toàn cầu hóa hình thành từ thập niên 1990. Tác động này dẫn theo sự lan rộng Internet. Sự bùng nổ công nghệ phần mềm tin học và công nghệ giải trí cũng góp phần làm cơn lốc tiếng Anh lan xa.
Tuy nhiên, vấn đề đáng chú ý ở chỗ ngôn ngữ không đơn thuần là công cụ giao tiếp. Ngôn ngữ là con đẻ của xã hội cộng đồng và nó là sản phẩm của văn hóa. Do đó, sự dung nạp một thứ tiếng nước ngoài có thể hàm nghĩa với việc tiếp nhận một nền văn hóa. Đó là lý do tại sao có ý kiến rằng sự lấn át của tiếng Anh có thể làm xói mòn các giá trị văn hóa dân tộc.
Trong một chừng mực nhất định, đây cũng là vấn đề đáng chú ý, bởi điều này có thể đem lại nhiều ảnh hưởng, từ trong hệ thống giáo dục đến ngoài xã hội. Pháp là một trong những quốc gia có kinh nghiệm về chuyện này. Với sức mạnh thực dân vào thế kỷ 18-19, Pháp và tiếng Pháp từng là lingua franca của ngoại giao, của luật quốc tế và của trào lưu văn hóa Molière. Sau khi bị thất thế do thứ tiếng của Shakespeare lấn át sau Thế chiến thứ hai, Paris tung chiến dịch vận động dùng Pháp ngữ tại nước ngoài.
Hiện tại, Chính phủ Pháp vẫn chi khoảng 1 tỉ USD/năm trong các chương trình hỗ trợ tiếng Pháp tại nước ngoài (tiếng Pháp hiện đứng hạng 9 thế giới trong những ngôn ngữ phổ biến nhất). Pháp một lần nữa bị thất thế khi Anh gia nhập Thị trường chung châu Âu (hiện là Liên minh châu Âu – EU) năm 1973. Trước khi có mặt thành viên Anh, tiếng Pháp là ngôn ngữ chính của cộng đồng này. Bây giờ, các thành viên EU như Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Điển đều có thể nói tiếng Anh sành sỏi như tiếng mẹ đẻ (hiện có 85% tổ chức thế giới đều dùng tiếng Anh như ngôn ngữ chính thức).
Lại lấy ví dụ Pháp để có thể thấy thêm tác động của tiếng Anh. Alcatel – công ty viễn thông khổng lồ thuộc nhà nước – đã quyết định dùng tiếng Anh làm “ngôn ngữ nội bộ”. Giới khoa học Pháp cũng quyết định rằng công trình của họ “hoặc được xuất bản bằng tiếng Anh (để mọi người biết đến) hoặc bị vùi lấp trong tiếng Pháp”.
Đó là chưa kể tình trạng diễn viên điện ảnh rủ nhau học tiếng Anh để sang Hollywood kiếm tiền. Dù giữa thập niên 1990, Bộ trưởng văn hóa và Pháp ngữ Jacques Toubon ban lệnh cấm dùng “tiếng nước ngoài” nhưng người kế nhiệm ông – Claude Allègre – đã tuyên bố năm 1998 rằng “tiếng Anh không nên được xem là ngôn ngữ nước ngoài… Trong tương lai, nó sẽ là ngôn ngữ nền tảng trong việc đọc, viết và số học”.
Dù vậy, thực trạng dùng tiếng Anh quá đà tiếp tục tạo ra cuộc chiến ngôn ngữ tại Pháp. Cách đây không lâu, phi công Air France đã phản đối việc sử dụng tiếng Anh của đài không lưu; và các thành viên Viện hàn lâm Pháp – những thiên thần hộ mạng của le bon usage (dùng tiếng Pháp sao cho tốt) – vẫn nhóm họp thường kỳ để vạch ra luật sử dụng ngôn ngữ.
Hiện tại, Chính phủ Pháp tiếp tục áp dụng luật bắt buộc các đài phát thanh phát sóng ít nhất 40% ca khúc bằng tiếng mẹ đẻ. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, tiếng mẹ đẻ không có từ tương đương nên bắt buộc phải dùng tiếng Anh. Từ “normalization” (bình thường hóa) không bị cấm trong tất cả văn bản nhà nước tại Nhật bởi ngôn ngữ nước này không có từ hàm nghĩa tương đương thay thế.
-
Phản ứng của các nước
Thực trạng tiếng Anh tràn lan cũng gây phản ứng tại nhiều quốc gia khác. Từ năm ngoái, Ba Lan đã ban lệnh cấm bán tất cả hàng hóa sản xuất tại nước mình mà in nhãn tiếng Anh. Theo chân Nga, Latvia cũng buộc mọi giao dịch thương mại tiến hành tại nước mình phải sử dụng tiếng mẹ đẻ. Thậm chí Đức – sức mạnh kinh tế lớn nhất châu Âu – cũng hạn chế tối đa sự phát triển của Denglisch (loại tiếng Đức chen lẫn tiếng Anh). Viện ngôn ngữ Đức từng yêu cầu công ty Deutsche Telekom không được dùng những từ như “CityCall”, “HolidayPlusTarif” hay “GermanCall”.
Cách đây bốn năm, khi tờ Frankfurter Allgemeine Zeitung dùng các thuật từ như “co-ordinated concepts” (những khái niệm điều phối) hay “effortless magic” (điều kỳ diệu có được một cách dễ dàng), giáo sư Wolfgang Kramer đã phản ứng bằng việc thành lập Hội bảo vệ Đức ngữ và trao “giải” Sprachpanscher (kẻ phá hoại giá trị Đức ngữ) hàng năm! Tại Hong Kong, giới doanh nghiệp đã tung chiến dịch dùng tiếng Quan thoại thay vì tiếng Anh.
Còn Ấn Độ (thuộc địa lâu đời của Anh) – nơi Mohandas Gandhi từng nói hồi năm 1908 rằng “việc bắt hàng triệu người học tiếng Anh là cách nô lệ hóa họ” – cũng đang tung cuộc chiến, dù yếu ớt. Một viên chức ngoại giao Ấn Độ từng thề rằng ông sẽ không ngủ yên “chừng nào tiếng Anh chưa bị quét khỏi đất nước”. Tại Tây Ban Nha, Viện hàn lâm hoàng gia Tây Ban Nha thành lập với chức năng tương tự Viện hàn lâm Pháp cũng nỗ lực chống lại cơn lốc tiếng Anh.
Hạ viện Brazil đã thông qua luật cấm dùng các từ tiếng Anh bình thường mà trong quốc ngữ Brazil (tiếng Bồ Đào Nha) có từ tương đương, chẳng hạn “coffee break” (nghỉ giải lao uống càphê), “fast food” (thức ăn nhanh), “shopping” (mua sắm)… Điển hình cụ thể cho cuộc chiến chống tiếng Anh thành công là một nước nhỏ: Iceland. Giống như vài trường hợp ở Đức, nơi người ta vẫn thích dùng Fernsprechapparat thay vì “Telefon” và không như người Pháp ngày nay đã quen dùng những từ le shopping hay le weekend, Iceland tiếp tục dùng alnaemi thay cho “AIDS”, skjar thay cho “video monitor”, toelva thay cho “computer”…
MẠNH KIM