PGS-TS Lê Chí Hiệp:

“Tiết kiệm điện từ máy làm lạnh”

Là một trong những chuyên gia hàng đầu về năng lượng ở Việt Nam hiện nay, PGS-TS Lê Chí Hiệp, Chủ nhiệm Bộ môn Công nghệ Nhiệt lạnh-ĐH Bách khoa TPHCM, Phó Chủ tịch Hội KHKT Lạnh & Điều hòa không khí Việt Nam có cái nhìn thiết thực về giải pháp tiết kiệm, giảm phụ tải điện.

- Thưa PGS, ông nhận xét như thế nào về những giải pháp tiết kiệm điện hiện nay?

Cũng như mọi người dân, tôi thông cảm và chia sẻ những khó khăn của ngành điện trong chuyện “rượt đuổi” mãi mà vẫn không bắt kịp nhu cầu sử dụng. Các giải pháp mà ngành điện đề ra đều đúng đắn, trước hết là kêu gọi tiết kiệm điện, đề ra định mức sử dụng điện; về lâu dài thì phát triển, xây dựng các nhà máy phát điện. Giải pháp thứ nhất gắn liền với việc thay đổi bóng đèn, sử dụng đèn compact, huỳnh quang, các thiết bị điện dân dụng ít hao điện, cắt điện luân phiên…; giải pháp thứ hai thì rất tốn kém. Tuy nhiên, hai giải pháp này mâu thuẫn với nhau, một thì kêu gọi hạn chế tiêu dùng điện, đằng khác lại tìm mọi cách sản xuất điện.

- Vậy theo PGS, còn có hướng đi nào có thể đạt được hiệu quả cao?

Thật ra, mảng điện chiếu sáng, điện sinh hoạt dân dụng, điện sử dụng ở các công sở chiếm sản lượng không lớn. Hệ thống điều hòa không khí ở các tòa cao ốc, khách sạn, trung tâm giải trí mới “đốt” điện đáng kể. Những khách sạn 4-5 sao thì hệ thống điều hòa không khí có công suất điện từ trung bình tới 1.000-1.500 KW. Thế nhưng, lâu nay chúng ta chỉ tìm cách giảm lượng điện tiêu thụ đồng thời tăng nguồn phát mà không quan tâm đến việc làm thế nào để sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn điện mình đang có.

- Vậy giải pháp cụ thể là gì?

Ở những công trình xây dựng lớn này, hệ thống điều hòa không khí (máy lạnh) trung tâm tiêu tốn trung bình 50% lượng điện năng tiêu thụ của cả công trình nhưng đến giờ hầu như vẫn sử dụng máy lạnh chạy điện. Trong khi đó, phụ tải điện sẽ giảm mạnh nếu sử dụng máy lạnh hấp thụ chạy bằng dầu diesel, khí đốt…. Giải pháp này đã được nhiều nước ứng dụng phổ biến như Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc… Riêng tại Mỹ và Nhật, hiện nay máy lạnh hấp thụ đã hiện diện trên 50% công trình xây dựng lớn. Cũng với hệ thống làm lạnh chạy điện ở các công trình xây dựng đồ sộ, chỉ cần gắn thêm hệ thống tích trữ lạnh thì cả nhà đầu tư và ngành điện đều có lợi. Thay vì phải hoạt động cật lực hết công suất lúc cao điểm để đáp ứng nhu cầu làm lạnh, làm tăng cao phụ tải lưới điện, giá điện phải trả rất cao thì hệ thống này san sẻ bớt hoạt động sang giờ thấp điểm, dự trữ đó rồi đưa ra sử dụng lúc cao điểm.

Với cách thức này, nhà đầu tư tiết kiệm được vốn đầu tư ban đầu, không cần phải đầu tư hệ thống có công suất tối đa mà vẫn đảm bảo đáp ứng được nhu cầu, tiết kiệm được tiền điện nhờ tranh thủ được giá điện rẻ lúc thấp điểm. Còn ngành điện cũng được lợi vì phụ tải điện không biến động lớn. Còn ở lĩnh vực sản xuất nước nóng với khối lượng lớn, phần lớn hiện nay vẫn dùng máy nước nóng chạy điện chứ máy nước nóng năng lượng mặt trời chỉ là nguồn bổ sung. Ở đây, nếu sử dụng bơm nhiệt, cũng là thiết bị làm nóng nước, vẫn chạy điện, thì sẽ khác biệt. Với cùng một lượng điện năng tiêu thụ, bơm nhiệt sẽ tạo ra lượng nước nóng nhiều gấp 3-4 lần so với máy nước nóng thông thường.

Ngoài ra, phụ tải lưới điện ngày càng tăng vọt theo đà phát triển các khu đô thị mới. Để khắc phục, những khu đô thị đó phải được xây dựng là khu đô thị sinh thái, tăng cường sử dụng năng lượng mặt trời ở đó, từ máy nước nóng đến điện mặt trời.

-Làm sao để các giải pháp trên đi vào thực tế?

Chi phí đầu tư ban đầu cho một máy lạnh hấp thụ gấp 1,5-2 lần hệ thống truyền thống nhưng chỉ sau 3 năm là chi phí này sẽ được “san bằng”, tức là khoản tiền điện tiết kiệm được sẽ bù lại phần chênh lệch chi phí đầu tư. Trong khi đó, máy lạnh hấp thụ sử dụng được ít nhất là 20 năm. Còn hệ thống tích trữ lạnh và bơm nhiệt thì hầu như không đáng kể về chi phí đầu tư nhưng lợi ích thì đã rõ. Năng lượng mặt trời thì không còn quá đắt đỏ nữa, máy nước nóng năng lượng mặt trời ngày càng phổ biến, còn suất đầu tư điện mặt trời hiện giờ chỉ còn dưới 4 USD/W, không cao hơn bao nhiêu so với mức 1-2 USD/W của điện truyền thống (thủy điện, nhiệt điện).

Vấn đề còn lại ở đây là các ngành khác nên chia sẻ trách nhiệm với ngành điện, nhất là ngành xây dựng và tài chính-ngân hàng. Nhà nước, các ngành phải có chính sách khuyến khích và chế tài thật cụ thể. Nhà nước nên đề ra định mức tiêu xài điện đối với các công trình xây dựng, đưa vấn đề sinh thái và tiết kiệm năng lượng vào chuyện xét duyệt công trình, cấp phép xây dựng. Cùng với những định chế, kèm theo đó phải có những ưu đãi về tài chính như hỗ trợ vốn đầu tư, chính sách thuế, “khuyến mãi”, trợ giá… Quan trọng không kém là cung cấp thông tin liên tục và định hướng cho người dân, cũng như nhà đầu tư trong việc lựa chọn sử dụng hiệu quả điện và các nguồn năng lượng mới.

- Xin cảm ơn PGS.

Châu Trúc

Các tin, bài viết khác