TPHCM không nằm trong vùng có thể xảy ra động đất mạnh

Tuy không nằm trong khu vực có nguy cơ cao về xảy ra động đất, song ngày 17-10 vừa qua, một loạt rung chấn nhẹ đã gây ảnh hưởng lớn đến tâm lý của người dân TPHCM và Bà Rịa- Vũng Tàu... Trong khi đó, tại khu vực phía Nam hiện nay có rất ít trạm quan trắc động đất và sóng thần. TS Nguyễn Ngọc Thủy, Viện trưởng Viện Vật lý địa cầu (Viện Khoa học Việt Nam) đã dành cho phóng viên báo SGGP cuộc trao đổi xung quanh vấn đề này.

Ông Nguyễn Ngọc Thủy.

- Là người theo dõi rất sát hiện tượng này, ông có thể cho biết tần suất và mức độ xảy ra động đất tại nước ta trong 10 năm trở lại đây như thế nào?

- Ông NGUYỄN NGỌC THỦY:
Khu vực thường xảy ra động đất mạnh nhất ở nước ta là phía Bắc và Tây Bắc. Trong lịch sử, Hà Nội đã từng xảy ra 2 trận động đất có độ rung chấn cấp 7, cấp 8 vào năm 1277 và 1285. Xin lưu ý rằng đối với vật lý địa cầu thì vài trăm năm vẫn còn là “mới”. Năm 2001, tại Điện Biên đã xảy ra một trận động đất với độ rung chấn cấp 7. Đó là cấp động đất có thể gây sập nhà cửa, công trình kiên cố. Còn mới đây nhất thì Bà Rịa- Vũng Tàu, TPHCM đã chịu một số rung chấn...

- TPHCM có nằm trong vùng có nguy cơ xảy ra động đất mạnh hay không, thưa ông?

- Thực ra hai trận động đất vừa xảy ra trên biển Đông ngày 17-10 chỉ ở mức độ nhẹ. Nhưng việc các trạm quan trắc khu vực phía Nam được bố trí ít và thưa cũng ảnh hưởng đến công tác thu thập, cập nhật thông tin. Thực tế, TPHCM không được coi nằm trong vùng có thể xảy ra động đất mạnh trên cấp 6; nghĩa là khó xảy ra tình trạng nhà cửa, cây cối... bị đổ sập. Nhưng nếu chất lượng công trình xây dựng kém, nhất là công trình cao tầng thì cũng không thể hoàn toàn yên tâm. Các khu vực ven bờ sông có nền đất yếu (như ở quận I) càng phải chú trọng đề phòng hơn.

- Ông có thể nói rõ hơn về tình hình phân bố và hoạt động của mạng lưới các trạm quan trắc động đất hiện nay?

- Viện Vật lý địa cầu hiện có 26 trạm quan trắc địa chấn, phần lớn là máy chu kỳ ngắn nên không thể xác định chính xác độ lớn của một trận động đất. Mặt khác, các máy này lại phân bố chủ yếu ở khu vực phía Bắc và Tây Bắc. Tại khu vực phía Nam chỉ có 3 trạm đặt tại Huế, Nha Trang và Đà Lạt. Viện Vật lý địa cầu đã xây dựng dự án tăng cường mạng lưới quan trắc địa chấn gần và xa để phục vụ dự án cảnh báo động đất và sóng thần vùng biển Đông. Dự án này đang được các cơ quan chức năng xem xét.

- Nếu được thực hiện, dự án sẽ mang lại hiệu quả như thế nào?

- Chúng tôi ước tính cần khoảng 30.000 USD để đầu tư cho mỗi trạm, cả nước cần ít nhất khoảng 5 trạm nữa. Nhưng phải nói rằng, dự báo chính xác thời điểm xảy ra động đất hay sóng thần là việc rất khó mà ngay những nước tiên tiến nhất trên thế giới cũng chưa làm được. Điều chúng ta có thể làm là theo dõi để xác định khu vực có nguy cơ cao nhất cũng như khoảng thời gian có thể xảy ra những hiện tượng thiên tai này để có giải pháp đề phòng từ trước.

- Còn cái khó gì nữa để làm tốt hơn công tác quan trắc, thưa ông?

- Cái khó nữa, theo tôi, là công tác cán bộ. Cần có những người thực sự say mê với công việc này. Có khi cả năm không có gì đáng ghi nhận, nhưng sơ sểnh một giờ thôi lại có thể bỏ sót một hiện tượng rất đáng lưu ý. Vì vậy, để “giữ” được quan trắc viên với nghề, đề nghị các cơ quan chức năng của Nhà nước cần có chế độ lương bổng và đãi ngộ phù hợp. 

ANH THƯ thực hiện
 

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất