Vốn vùng vịnh đang đổ vào châu Á

Hội nghị các Bộ trưởng kinh tế thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vừa được khai mạc vào đầu tuần đang là một sự kiện thu hút sự chú ý của công luận thế giới. Theo đánh giá của các chuyên gia, sự thay đổi vai trò của châu Á trong cán cân thực lực toàn cầu chắc chắn sẽ trở thành một trong những dấu hiệu quan trọng của trật tự thế giới mới đang hình thành từ đầu thế kỷ XXI. Kịch bản phát triển mới này đã được các nhà phân tích mệnh danh bằng thuật ngữ “Con đường tơ lụa mới”…

  • Từ khủng hoảng thừa tiền vốn

Lễ ký thỏa thuận mua cổ phiếu Pakistan Telecommunications của Etisalat - một ví dụ về xu hướng đầu tư mới của các quốc gia vùng Vịnh.

Trong thời gian gần đây, bộ mặt kinh tế thế giới đã bắt đầu xuất hiện những xu hướng và diện mạo mới. “Nhờ” có giá dầu tăng vọt, các quốc gia vùng Vịnh đang tiếp tục “khấm khá” lên rất nhanh. Tuy nhiên, khả năng lựa chọn các phương án đầu tư tiền bạc của họ lại rất hạn chế. 

Theo chuyên gia kinh tế Steven Rouche của ngân hàng đầu tư Morgan Stanley, sự lan tràn “tâm trạng chống khủng bố” tại Mỹ và châu Âu cùng với chính sách “dân tộc chủ nghĩa về kinh tế” của phương Tây đã khiến các nhà đầu tư trong thế giới Hồi giáo gặp nhiều khó khăn hơn trong việc rót tiền vào các nước phát triển.

Đầu tư trong nội bộ các nước Ả Rập cũng có những hạn chế – khu vực này cho tới giờ vẫn chưa có nhiều lãnh vực kinh doanh có thể đón nhận những khoản đôla “dư thừa” từ bán dầu mỏ. Tình trạng dư thừa tiền vốn đã gây ra một cuộc khủng hoảng thực sự trong các thị trường vốn của các nước Ả Rập.

Người ta thi nhau đổ những khoản tiền nóng này vào thị trường chứng khoán, khiến cổ phiếu của các công ty tăng gấp nhiều lần. Vụ đổ vỡ nghiêm trọng về định giá tại thị trường này hồi đầu năm 2006 đã kéo theo hàng loạt những cuộc biểu tình của các nhà đầu tư chứng khoán bị lừa đảo.

Ở một khía cạnh khác, các nước Ả Rập giàu có cũng muốn phát triển hơn nữa cơ sở hạ tầng của mình, trong khi không có nhiều công ty có thể đảm trách việc này. Còn châu Á đang phát triển nhanh lại có rất nhiều công ty có khả năng, trong khi giá thành lại rất rẻ. Bản thân các nhà đầu tư tại châu Á cũng gặp không ít khó khăn tại phương Tây. Chẳng hạn như hồi năm 2005, Mỹ đã tìm mọi cách ngăn chặn thương vụ mua công ty Unocal của tập đoàn quốc gia CNOOC từ Trung Quốc. Mới đây, quốc hội Mỹ đã phê chuẩn một kế họach nhằm giới hạn khả năng đầu tư của nước ngoài vào thị trường nội địa. Đó là tất cả những nét chính trong kết quả thăm dò ý kiến của các nhà đầu tư quốc tế do Deloitte Touche Tohmatsu tiến hành.

  • ...Đến sự hình thành “Con đường tơ lụa mới”

Hoàn cảnh kinh tế và chính trị chung như vậy đã thúc đẩy các “con hổ” châu Á và những ông hoàng trong thế giới Ả Rập vào thế cần phải hợp tác. Bước ngoặt sự kiện có tầm quan trọng đặc biệt này đã được các chuyên gia từ hãng tư vấn McKinsey gọi là “Con đường tơ lụa mới”. Nhìn lại lịch sử trong 5 thế kỷ gần đây, những tuyến thông thương hàng hóa và vốn đầu tư chủ yếu hình thành giữa châu Âu và Mỹ.

Các nước châu Á đã có những chuyển biến đáng kể từ cuối thế kỷ XX, tuy nhiên trong giai đoạn đầu chủ yếu là những dòng lưu thông tiền vốn và hàng hóa giữa phương Đông đang phát triển và phương Tây phát triển. Từ thời xa xưa, con đường thông thương chính (còn gọi là Con đường tơ lụa) của hàng hóa nằm trải dài từ Trung Quốc đến Trung Á. Giờ đây, con đường lịch sử này sẽ hồi sinh nhưng không phải bằng hàng hóa như trước kia mà dưới dạng của một “xa lộ” thu hút đầu tư.
 

Những nhà đầu tư lớn từ Vịnh Pecxich (đang sở hữu một khoản vốn đầu tư cực lớn khoảng 300 tỉ USD), dựa trên kết quả thăm dò của các chuyên gia từ McKinsey, đang dự tính sẽ nâng tỉ lệ vốn đầu tư của mình tại châu Á từ 10% lên thành 30%.

Trong khi cho đến năm 2010, thị trường châu Á đang cần thêm khoảng 1 ngàn tỉ USD đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), trong đó không dưới ¼ số này có nguồn gốc từ các quốc gia vùng Vịnh.  

Một trong những nguyên nhân quan trọng theo các chuyên gia là do các nhà đầu tư từ những nước đang phát triển “hiểu rõ” hơn về những mạo hiểm và khó khăn tại môi trường đầu tư này.

Một minh chứng khác liên quan đến cái gọi là nền kinh tế “Đại châu Á” chính là sự phát triển nhanh chóng của các thỏa thuận thương mại trong nội bộ khu vực (cụ thể theo như số liệu của WTO, số thỏa thuận này đã tăng lên từ 30 hồi đầu những năm 90 lên gần 200).

Châu Á cũng đang chứng kiến sự bùng nổ của hàng loạt những thỏa thuận thương mại tự do song phương cũng như đa phương. Tạp chí The Economist đánh giá chỉ riêng tại khu vực Đông Á, số thỏa thuận thương mại tự do sẽ lên tới 70 vào cuối năm nay.

Mặt khác, số liệu của Viện tài chính quốc tế cho thấy, EU ngay từ năm 1994 đã không còn là đối tác thương mại chính của các nước nằm trong Hội đồng hợp tác vùng Vịnh Pecxich (GCC). Trong khi tỉ lệ lưu thông thương mại của các nước châu Á với GCC đã tăng từ 23% năm 1994 lên thành 32% năm 2005.

Trong xu hướng này, đóng vai trò quan trọng nhất là quan hệ thông thương Trung Quốc-GCC với tỉ lệ tăng từ 1,9% lên 6,3%. Có thể kể tới một vài minh chứng hàng đầu như việc tập đoàn Etisalat của UAE mua đa số cổ phần kiểm soát của tập đoàn Pakistan Telecommunications với giá 2,6 tỉ USD, hay vụ ông hoàng Bin Talal từ Ả Rập Xê Út mua số cổ phiếu khổng lồ của Bank of China.

Thị trường kinh tế năng động của châu Á đang đứng trước không ít những cơ hội đồng thời cũng kèm theo những thách thức mới. Vấn đề quan trọng là các quốc gia tại đây phải biết cách tận dụng một cách hợp lý và tỉnh táo nhất những cơ hội này. 

Tỉ lệ FDI tăng giữa các nước đang phát triển

Theo số liệu của Deutsche Bank, nếu như năm 1994, các nhà đầu tư trực tiếp lớn nhất vào Ấn Độ là người Mỹ, thì đến năm 2004 tỉ lệ vốn đầu tư của họ đã giảm đi 3 lần. Còn Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) đã có mặt trong danh sách 5 nhà đầu tư trực tiếp hàng đầu tại đây. 

Còn theo báo cáo có nhan đề Global Development Finance 2006 của Ngân hàng thế giới (WB), xu hướng hình thành các dòng đầu tư qua lại lẫn nhau giữa các nước đang phát triển đã có được định hình rõ nét. Tỉ lệ FDI qua lại giữa các nước đang phát triển đã tăng từ 16% năm 1995 lên 36% vào năm 2003. Đồng thời, tỉ lệ FDI từ các nước phát triển đã giảm xuống tương ứng từ 84% xuống còn 64%.  

NHƯ QUỲNH
(Tổng hợp)

Các tin, bài viết khác