Ngày mới ở vùng đất cũ

Ngày mới ở vùng đất cũ

Tuyến kênh T29 chạy dọc theo con kênh nước xanh và những hàng cây xanh mướt hai bên đường. Dưới tán rừng tràm, những căn nhà tôn nằm lấp lánh dưới nắng khung cảnh thật thanh bình và thơ mộng bởi xe chúng tôi chạy hàng chục cây số giữa con đường nhựa êm ái với “cây một bên và kênh một bên”. Bên phải tuyến kênh này là xã Khánh An, bên trái là xã Nguyễn Phích, thuộc huyện U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau.

Dưới những tán tràm 

Xã Khánh An có 3.100 hộ với 15.000 nhân khẩu. Trước đây, xã chỉ có 10 ấp, năm 2008 nhận thêm 7 ấp thuộc phần đất Lâm trường 3 giao lại với 800 hộ dân. Họ nhận hợp đồng khoán đất rừng sản xuất, theo quy định 7 phần tràm 3 phần lúa (bình quân 4 ha/hộ, trong đó có 1,5ha làm ruộng, 2,5ha rừng tràm). Sống dưới tán rừng tràm, nên ở đây mâu thuẫn giữa giữ rừng và làm lúa liên tục xảy ra. Đặt mục tiêu phải cứu rừng lên trên hết nên họ phải sống trong bờ bao be kín các mảnh ruộng. Nước không thoát được đã khiến lúa chết úng trong ruộng.

Nhiều cây cầu bê tông đã được xây dựng ở vùng nông thôn tỉnh Cà Mau giúp bà con đi lại thuận tiện. Ảnh: THÁI BẰNG

Nhiều cây cầu bê tông đã được xây dựng ở vùng nông thôn tỉnh Cà Mau giúp bà con đi lại thuận tiện. Ảnh: THÁI BẰNG

Dân nghèo các nơi đưa về đây được chia đất nhưng vẫn đói, do họ “thích” làm thuê hơn làm ruộng. Làm sao để giúp dân thoát nghèo và sống được bằng đất ruộng của mình? Một trong những người gắn bó mật thiết với vùng U Minh, thấu hiểu những bức xúc, thiệt thòi, mong ước và khát vọng của người dân nhận khoán đất lâm phần nhiều năm qua là ông Trần Thanh Liêm (Ba Liêm), Phó Chủ tịch UBMTTQVN tỉnh Cà Mau. Sau khi khảo sát các mô hình trồng lúa, nuôi cá, rau màu của người dân xã Khánh An, ông Ba Liêm phấn khởi nói: “Tâm đắc nhất là người dân bây giờ đã quyết tâm bám trụ, lao động sản xuất và sống được trên phần đất của mình”.

U Minh Hạ là vùng có tiềm năng lớn, phong phú, đa dạng, nhưng tại sao vẫn là huyện trũng nghèo của Cà Mau? 8.000 hộ dân được giao vài hécta đất rừng sản xuất/hộ từ nhiều năm nhưng vẫn không khá lên nổi. Theo ông Ba Liêm đó là do cơ sở hạ tầng còn thấp, sự phân chia trách nhiệm quản lý tài nguyên không rõ ràng, đầu tư không đồng bộ, giải pháp chưa phù hợp. Một tỷ lệ lớn người dân có đất nhưng không được giao quyền sử dụng… Chính điều này làm cho nông dân nhận đất lâm phần không phát triển được. Đã nói rừng sản xuất thì phải vận hành kinh tế. Việc không giao quyền làm cho người dân luôn thụ động, không dám đầu tư sản xuất lâu dài…

Mô hình bắt buộc lúa-tràm thời gian qua cho thấy có nhiều mâu thuẫn, hiệu quả thấp, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống người dân. Cụ thể trồng 1 ha tràm phải mất 10-12 năm mới khai thác, giá thu mua hiện tại chỉ 20 triệu đồng, làm sao đủ chi phí trang trải. Diện tích lúa trong đất nhận khoán cũng rất bấp bênh vì mâu thuẫn giữ nước cứu rừng tràm thì lúa chết, nông dân chịu thiệt… Do vậy, cùng với việc cấp giấy sử dụng đất cho dân, nhất thiết phải mạnh dạn áp dụng phương án sản xuất mới tách lúa ra khỏi tràm. Dân cư được bố trí lại theo hướng cư trú tập trung hai bên tuyến kênh T29 để vừa giữ được rừng khỏi bị phá, không bị cháy vào mùa khô, vừa thuận lợi trong việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, thủy lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần.

Kế đến, dân được cấp sổ đỏ để có cơ sở vay vốn ngân hàng làm ăn, hỗ trợ tiền làm nhà… Được hỗ trợ bằng nhiều cơ chế chính sách, vốn, đặc biệt là cấp giấy đỏ trên diện tích 1,5ha đất làm ruộng nên người dân quyết tâm bám trụ, mạnh dạn cải tạo đất, sản xuất căn cơ. Chúng tôi đến gia đình anh Trần Thành Công, đồng bào Khmer, thuộc diện đặc biệt khó khăn của ấp 17. Cháu gái tên Trần Thị Đậm ở nhà chăm sóc 2 em nhỏ cho biết: “Cha mẹ con đang bận đi làm đất, chuẩn bị cấy lúa vụ đầu tiên. Trước đây cha mẹ và 3 chị em con phải che bạt ngoài bờ sông ở tạm năm này qua năm kia, giờ nhà nước thấy khổ quá nên cho tiền cất nhà ở rồi”.

Thực tế dù còn chật vật, nhưng người dân chí thú làm ăn, sống được trên mảnh đất của mình. Thật phấn khởi khi 800 hộ dân thuộc 7 ấp mới sáp nhập đã trồng lúa trên diện tích hơn 1.000ha (1 vụ/năm), năng suất bình quân 4,2 tấn/ha, 600-700ha trồng rẫy. Năm nay, nhờ xổ phèn tốt, một số diện tích đã trồng được 2 vụ lúa. Trong đó, một phần diện tích được điều chỉnh từ tràm sang lúa và ngược lại cho phù hợp thực tế đã thật sự đưa người dân dần thoát khỏi cảnh nghèo đói triền miên của những năm tháng cũ.

Bên những cây cầu

Bà con xã Tạ An Khương (huyện Đầm Dơi) nghèo triền miên cho đến năm 1994, họ bắt đầu nuôi tôm. Nhưng vốn ít, làm ruộng cũng khó mà nuôi tôm càng khó bởi chỉ cần một mùa thất là trở thành lao động làm thuê kiếm sống. Vậy thì trợ vốn. Nhưng những khoản tiền trợ vốn đưa đi chẳng mấy khi quay về. Bởi không có kiến thức, không tay nghề nên chuyện nông dân để mất vốn là điều trông thấy. Cả xã không có mấy nơi đi bằng chân được mà phương tiện di chuyển chỉ toàn ghe là ghe.

Chương trình “Phụ trách xã” (một đơn vị cấp tỉnh hỗ trợ tạo điều kiện cho một xã khó khăn còn gọi là Chương trình 494) đã mang đến cho Tạ An Khương một làn gió mới. Đầu tiên bà con mong muốn được hỗ trợ là “cái chữ”. “Dân Tạ An Khương phải thoát nghèo bằng học vấn”, một lão nông ấp Mương Điều nói. Nhưng cái xứ Tạ này chung quanh cắt ngang cắt dọc chỉ toàn là kênh với mương, sông muốn đi học cần có tiền đi đò. Không tiền, số học sinh xã nghèo nghỉ học ngày càng nhiều. Năm học 2009-2010, nhờ có chương trình “hỗ trợ tiền đò đi học” của tỉnh mà gần 100 học sinh nghèo của huyện đã bước qua được nỗi buồn “mất chữ” của cha mẹ.

Chia tay vùng đất từng được mệnh danh nghèo nhất xứ U Minh, đang đổi mới từng ngày, chúng tôi cảm thấy tâm đắc với khẳng định của đồng chí Nguyễn Tuấn Khanh, Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau về vấn đề này: “Cấp ngân sách cho cơ sở chỉ có thể xây cầu, làm đường, làm trường… nhưng không thể xây dựng phong cách mới cho cán bộ xã được. Điều chúng tôi muốn ở Chương trình 494 này đó là thay đổi thói quen trịch thượng với dân, phong cách “lề mề, chưa chiều đã nhậu” của cán bộ xã, ấp. Muốn thế phải hiểu và chia sẻ những khó khăn có thật của mỗi xã để cùng chung tay với các cán bộ tại chỗ để đưa xã phát triển nhanh, đúng hướng”.

Niềm vui đi học bằng đò miễn phí nhân lên gấp bội khi xã nghèo này được tỉnh cho xây dựng 30 cây cầu nông thôn trị giá khoảng 5 tỷ đồng nằm trong chỉ tiêu 1.588 cây cầu nông thôn của chương trình “Nhịp cầu mơ ước”. Cái cầu treo Ngã Tư (từ xã Tạ An Khương đấu nối lộ Cà Mau với Đầm Dơi) hoàn thành, dân xã Tạ An Khương vui hết biết, khoe với dân ngoài xã: “Quê tao có cây cầu Mỹ Thuận nhỏ”. Khoe thế bởi cây cầu… được thực hiện “y chang” cầu dây văng Mỹ Thuận, chỉ có điều nó nhỏ hơn. Nhưng quan trọng là từ đây, việc đi lại dễ dàng, dân lại không mất tiền qua phà khiến bà con xã này đua nhau sắm xe gắn máy.

Ông Quang và bà Thành, người dân ở ấp Mương Điều B không giấu được niềm vui: “Trước đây vùng đất này lầy lội, đi lại khó khăn. Gia đình nào có con em đang đi học đều phập phồng lo sợ. Sợ cảnh qua đò, sợ cảnh trơn trợt khiến chúng có thể rơi tòm xuống con nước mùa lũ, nhưng hiện nay các cháu được đến trường trên những con đường bê tông thẳng tắp. Trời, cứ ngỡ đây thị trấn chứ không còn khu nhà quê nghèo nữa”.

Lộ giao thông nông thôn hoàn chỉnh, không chỉ là niềm mơ ước bao đời của người dân, phục vụ nhu cầu đi lại, học hành, giao lưu mua bán, mà còn là nhân tố tích cực góp phần xây dựng nông thôn mới. Xã đang phấn đấu xây dựng 25.000m lộ giao thông nông thôn nữa để nối với 30 cây cầu mới đã giúp người dân Tạ An Khương đi lại dễ dàng tạo một diện mạo mới cho vùng quê khó khăn. Đi lại dễ dàng, bà con làm ăn cũng phấn chấn hơn.

Những năm gần đây, phong trào nuôi tôm có chựng lại ở nhiều thôn ấp và diện tích nuôi tôm có thu hẹp, thế nhưng theo anh Hoàng Anh, cán bộ nông nghiệp của xã này thì “đó không phải là điềm đi xuống của xã mà là báo hiệu sự đi lên của xã” trong phong trào nuôi tôm. Bởi xã đã chuyển từ nuôi tôm quảng canh, sang nuôi tôm cải tiến và nuôi tôm công nghiệp. Hiện xã có 31ha nuôi tôm công nghiệp trên tổng diện tích nuôi tôm quảng canh của cả xã là 2.963ha. Đồng chí Nhựt, Bí thư Đảng ủy xã, lấy xe gắn máy chở chúng tôi đến một nơi nuôi tôm lớn nhất xã với gần 2ha tôm nuôi công nghiệp.

Năm 1994, anh Võ Văn Thành bắt đầu nuôi tôm quảng canh trên mấy sào ruộng của cha mẹ vợ cho. Cũng “chết đi sống lại” nhiều lần vì thất mùa tôm. Anh Thành quyết tâm phơi ao một thời gian để đi học về kỹ thuật nuôi tôm cải tiến. Từ năm 2000 đến nay anh đã xây được nhà tầng, mua ghe máy, mua xe Honda và nuôi hai thằng con học đại học. Nhưng điều mà anh Thành “ưa nhứt” ở xã đó là “cán bộ xã mấy năm nay giỏi hơn xưa, chịu nghe dân nói hơn xưa”. Gần dân lắng nghe dân nói đã tạo ra sự gắn bó giữa cán bộ và dân một cách tự nhiên mà không cần lớn tiếng kêu gọi.

B.ĐẠI - P.THƯ

Tin cùng chuyên mục