Ông là “cha đẻ” của “Robot đặt hạt” Made in Vietnam đã có mặt tại 15 quốc gia, cùng hàng chục thiết bị máy móc độc đáo giải phóng sức lao động cho hàng vạn người nông dân.
Từ nợ nần đến “miền đất hứa” Israel
Đón chúng tôi ở xưởng cơ khí, trong bộ quần áo bảo hộ lấm lem dầu mỡ, khuôn mặt sạm nắng nhưng ánh mắt rạng ngời tinh anh, ông Phạm Văn Hát bắt đầu câu chuyện bằng một nụ cười hiền hậu: “Nhiều người hỏi tại sao một nông dân lớp 7 lại trở thành nhà sáng chế. Thực ra, chẳng có phép màu nào cả. Đó là một sự ngẫu nhiên, hay đúng hơn là bị cái nghèo dồn vào đường cùng mà bật ra quyết tâm sáng tạo”.
Trước khi lừng danh, ông Hát từng là một “đại gia chân đất” nếm mùi thất bại cay đắng. Năm 2007, với tư duy nhạy bén, ông dốc sạch 1,5 tỷ đồng - số tiền rất lớn lúc bấy giờ - để đầu tư trang trại rau an toàn quy mô 10 mẫu. “Lúc đó, có lẽ tôi đi trước nhu cầu người dân. Người ta chưa quan tâm rau sạch giá cao. Đến năm 2010, tôi “vỡ trận”, thua lỗ 4 tỷ đồng”, ông Hát bùi ngùi nhớ lại.
Trắng tay, gánh những khoản vay lãi ngày lên tới 800 triệu đồng, ông đứng trước ngưỡng cửa tuyệt vọng. Nhưng thay vì gục ngã, ông Hát chọn lối thoát táo bạo: sang Israel làm việc để kiếm tiền trả nợ và cũng để tận mắt xem ở xứ sa mạc làm nông nghiệp kiểu gì mà giàu thế. Năm 2010, ông Hát lên máy bay sang Israel làm lao động phổ thông.
Tại xứ sở Do Thái, công việc của ông là làm đất và rải phân bón cho trang trại rau. Giữa cái nắng rát mặt, việc vác từng bao phân nặng trịch rải cho hàng chục hécta đất vô cùng vất vả. Cái khó ló cái khôn, quan sát chiếc máy cày của chủ, ông Hát mạnh dạn đề xuất: “Để tôi chế cho ông cái máy rải phân tự động gắn sau máy cày, thay thế cho 20 người đang oằn lưng làm việc”.
Ông chủ người Israel bán tín bán nghi, thậm chí nhờ các nhân viên Đại sứ quán Việt Nam xác minh nhân thân gã lao động “cuồng ngôn” này. Cuối cùng, họ đã cấp vật tư cho ông Hát thử sức. Chỉ sau 3 ngày đêm làm việc quên ăn ngủ, ông Hát đã làm nên chiếc máy rải phân đầu tiên, và đến phiên bản thứ 3 thì hoàn thiện tuyệt đối. Kết quả vận hành thực tế còn kinh ngạc hơn, khi chiếc máy không chỉ thay 20 người mà công suất tương đương gần 40 lao động thủ công. Kể từ giây phút đó, một nông dân lớp 7 của Việt Nam được giới chủ Israel đối đãi như kỹ sư cao cấp. Ông Hát được miễn làm nông, chỉ ngồi phòng lạnh nghiên cứu, cải tiến máy móc. Mức lương tăng gấp 2,5 lần, được “thưởng nóng” 10.000USD và phía Israel chủ động đăng ký bản quyền cho hàng loạt sáng chế của ông.
Bán cái người dân cần
Năm 2012, giữa lúc công việc tại Israel thăng hoa rực rỡ, ông Hát bất ngờ quyết định về nước. Quyết định bị bạn bè mắng là dại dột vì khoản nợ 4 tỷ đồng ở quê vẫn còn đó. “Tôi nghĩ rằng làm thuê mãi ở xứ người thì không thể làm giàu được, và quan trọng là trí tuệ của mình phải phục vụ cho bà con nước mình trước đã”, ông Hát chia sẻ về lý do quyết định về nước.
Ngày mới về, xưởng cơ khí chỉ là gian nhà tôn xập xệ, thiếu thốn đủ đường. Bỏ ngoài tai những lời xì xào ác ý rằng ông “đi ăn cắp công nghệ xứ người”, ông âm thầm nỗ lực chế tạo máy móc. Sản phẩm đầu tiên đánh dấu sự bùng nổ của ông tại quê nhà chính là “Robot đặt hạt”. Dẫn chúng tôi ra xưởng, chỉ tay vào chiếc máy đang được đóng gói xuất khẩu, ông Hát tự hào: “Máy nhập ngoại cần 6 chip, 8 rơ-le, máy nén khí cồng kềnh, ngốn 6KW điện và giá trên 100 triệu đồng. Máy của tôi không dùng một con chip nào, chạy bằng cơ học thuần túy, điện chỉ tốn 400W. Độ chính xác gần như tuyệt đối mà giá chỉ 30-35 triệu đồng. Hơn nữa, máy rất bền, bà con vứt vạ vật mưa nắng 2-3 năm lôi ra tra dầu mỡ vẫn chạy tốt”. Chính sự tinh giản mà hiệu quả đó đã chắp cánh cho “Robot đặt hạt” vượt biên giới, có mặt tại 15 quốc gia, chinh phục cả những thị trường khắt khe nhất như Nhật Bản, Mỹ, Canada, Đức, New Zealand…
Nhờ doanh thu bứt phá, chỉ 3 năm sau khi về nước, ông Hát thanh toán dứt điểm khoản nợ 4 tỷ đồng và mở rộng quy mô sản xuất. Với nhãn quan thiên bẩm, ông liên tục chế tạo, cải tiến hơn 60 loại máy móc, trải dài từ nông nghiệp đến ngư nghiệp, lâm nghiệp: máy xúc thóc (công suất 10 tấn/giờ), máy thu hoạch củ hoa dơn, máy đào thảo dược, máy phun thuốc trừ sâu, máy thu hoạch rau mầm... Công ty TNHH Hát Sáng Chế giờ đây đã trở thành một địa chỉ tin cậy, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động địa phương và là nơi ươm mầm cho những ý tưởng “điên rồ” nhưng thiết thực.
Triết lý kinh doanh của ông Hát rất thực tế: “Không sản xuất ồ ạt để bán cái mình có, mà bán cái người dân cần”. Mỗi thiết bị ra đời đều từ những đơn đặt hàng “khó nhằn” của bà con, được “may đo” riêng cho từng vùng thổ nhưỡng và tập tục canh tác của người nông dân. Ông kiên định với 4 tiêu chí: “Đơn giản - Hiệu quả - Giá rẻ - Bền bỉ”. Nhờ đó, nhiều loại máy mang thương hiệu “Hát sáng chế” có giá chỉ bằng 1/10 đến 1/3 hàng ngoại nhưng lại là thứ công cụ đắc lực nhất trên đồng ruộng, được người dân mọi miền đất nước tin dùng, mang về cho ông vô số giải thưởng sáng tạo kỹ thuật trong nước và quốc tế.
Lòng tự tôn dân tộc và lời từ chối 30 tỷ đồng
Không bó hẹp ở bài toán nông nghiệp, tầm nhìn của ông Hát vươn sang những vấn đề đô thị nóng bỏng. Trăn trở trước những vụ hỏa hoạn thương tâm tại các chung cư mini, quán karaoke, ông dồn tâm huyết nghiên cứu sản phẩm mới nhất: “Thiết bị thoát hiểm cho nhà cao tầng”.
Khác với thang dây thông thường đòi hỏi kỹ năng thắt đai và tâm lý vững, thiết bị của ông vận hành theo nguyên lý cơ học thuần túy, không dùng điện. Thiết bị không hạn chế chiều cao, từ người già, trẻ nhỏ đến người khuyết tật đều sử dụng dễ dàng. Đáng kinh ngạc là công suất cứu hộ: qua thử nghiệm từ mô hình 5 tầng, hệ thống có thể đưa 30 người xuống đất an toàn, êm ái chỉ trong 1 phút 26 giây.
Hệ thống này lập tức gây tiếng vang. Theo ông Hát, một đối tác Nhật Bản sau khi khảo sát 14 mô hình thoát hiểm toàn cầu đã đánh giá rất cao sản phẩm của ông. Một tập đoàn Trung Quốc đã sang tận nơi, ngỏ ý mua đứt bản quyền thiết kế và công nghệ với giá 30 tỷ đồng. “30 tỷ đồng là con số rất lớn, nhưng tôi đã từ chối. Tôi muốn người Việt mình phải được bảo vệ bởi thiết bị này trước tiên. Tôi cũng muốn chứng minh với thế giới rằng, người Việt Nam không hề thua kém về trí tuệ và sự sáng tạo. Tiền có thể kiếm sau, nhưng sinh mạng đồng bào và niềm kiêu hãnh dân tộc thì không thể đánh đổi”, ánh mắt ông Hát đầy cương nghị. Hiện ông đã đăng ký sáng chế độc quyền và đang chờ đón các nhà đầu tư nội địa để đưa thiết bị phổ cập rộng rãi.
Rời xưởng cơ khí của ông Hát, chúng tôi dạo bước ra cánh đồng Tân Kỳ. Ông Nguyễn Văn Nam, một lão nông, đang thong dong đứng trên bờ điều khiển máy phun thuốc trừ sâu tự động, hồ hởi nói: “Từ ngày có máy chú Hát, chúng tôi nhàn hẳn. Trước kia lội bùn cõng bình xịt hít hóa chất độc hại, nay chỉ gạt cần vài chục phút là xong cả cánh đồng. Giá rẻ, máy hỏng, ới một tiếng là chú ấy cho thợ ra tận ruộng sửa ngay”. Nụ cười của những người như lão nông ấy có lẽ là phần thưởng lớn lao nhất dành cho ông Hát, hơn mọi tấm huân chương, bằng khen được treo rất nhiều trong căn nhà khang trang của ông.
Hành trình tái sinh của “nhà sáng chế chân đất” Phạm Văn Hát là minh chứng sống động cho tinh thần vượt khó và khả năng sáng tạo vô hạn của con người Việt Nam. Từ một nông dân nợ nần chồng chất đến một nhà sáng chế vươn tầm quốc tế, ông đã viết nên một câu chuyện cổ tích giữa đời thường. Chia tay chúng tôi trong bóng chiều tà, ông Hát nhẹ nhàng đúc kết tâm niệm của đời mình: “Đổi mới sáng tạo không nhất thiết cứ phải khởi nguồn từ phòng thí nghiệm triệu đô. Đôi khi, nó bắt đầu từ chính hơi thở nhọc nhằn của cuộc sống và từ mong muốn vô cùng dung dị: làm sao để đồng bào mình, bà con mình vơi bớt khổ cực”.