“Gánh gánh gồng gồng” trên đường kháng chiến
Xuân Phượng sinh năm 1929 trong một gia đình khá giả thời Pháp thuộc. Sau khi học xong tiểu học, bà được thân phụ đưa vào học tại Trường Couvent Des Oiseaux ở Đà Lạt - ngôi trường danh giá do Hoàng hậu Nam Phương sáng lập. Năm 1944, ở tuổi 15, bà ra Huế học tiếp tại Trường Khải Định (nay là Trường THPT chuyên Quốc Học Huế). Trong không khí sục sôi của phong trào cứu quốc, người thiếu nữ ấy đã gác lại đèn sách để hòa mình vào dòng thác cách mạng, trở thành đội viên tuyên truyền xung phong.
Cuối năm 1946, với vốn tiếng Pháp tinh thông và kiến thức khoa học, theo lệnh của Bộ trưởng Quốc phòng Tạ Quang Bửu, bà tham gia đội ngũ quân giới. Năm 1949, bà lên chiến khu Việt Bắc, làm việc tại cơ sở quân giới dưới sự chỉ đạo của Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa. Chính tại đây, bà đã gặp gỡ và kết duyên cùng ông Tôn Thất Hoàng - người sau này là một cán bộ chỉ huy pháo binh của mặt trận Điện Biên Phủ.
Hình ảnh biểu tượng nhất trong cuộc đời bà có lẽ là năm 1954, khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Một mình bà đã băng rừng, vượt đèo, lội suối, trên vai gánh hai con nhỏ vượt qua dặm dài gian khổ để về Hà Nội an toàn. Hành trình phi thường ấy sau này đã trở thành mạch nguồn cảm xúc cho cuốn hồi ký Gánh gánh… gồng gồng…
Sau một thời gian làm việc tại Bộ Tài chính và tốt nghiệp Đại học Y khoa năm 1967, Xuân Phượng về công tác tại y tế quận Ba Đình. Nhờ phong thái thanh lịch và vốn ngoại ngữ uyên thâm, bà được Bộ Ngoại giao tin tưởng giao nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe và thông dịch cho các khách quốc tế cấp cao và các văn nghệ sĩ thế giới đến Việt Nam.
Cuộc gặp gỡ định mệnh đầu những năm 70 với đạo diễn huyền thoại người Hà Lan Joris Ivens đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời bà. Nhận thấy tâm hồn nghệ sĩ ẩn sau người nữ bác sĩ, Joris Ivens đã tận tâm truyền dạy kỹ thuật làm phim tài liệu.
Xuân Phượng rời ngành y để cầm máy quay, trở thành nữ phóng viên chiến trường đi vào vùng hỏa tuyến Vĩnh Linh. Những thước phim của bà không chỉ là tư liệu lịch sử mà còn là những tác phẩm nghệ thuật mang đậm linh hồn thời cuộc, ghi lại nỗi đau và sự kiên cường của đồng bào trong mưa bom bão đạn.
Gia tài văn chương và sự ghi nhận của công chúng
Năm 2001, Xuân Phượng ra mắt tác phẩm Áo dài (viết bằng tiếng Pháp), gây tiếng vang lớn trên thế giới, được dịch ra nhiều thứ tiếng. Cái tên “Áo dài” như một hoài niệm về thời thiếu nữ tiểu thư, đồng thời là biểu tượng của bản sắc Việt mà bà luôn mang theo mình. Năm 2020, bà xuất bản cuốn hồi ký Gánh gánh… gồng gồng…, tái hiện hành trình từ một cô gái Huế theo cách mạng đến khi trở thành một đạo diễn, một chủ phòng tranh.
Ngay sau khi ra mắt, tác phẩm nhận được sự đánh giá cao của bạn đọc và giới chuyên môn, lần lượt nhận giải thưởng của Hội Nhà văn TPHCM và Giải thưởng Sách Quốc gia lần VIII tại Hà Nội của Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 2024, bà xuất bản Khắc đi… Khắc đến…, một sự tiếp nối về hành trình đi và quan sát, chiêm nghiệm về cuộc đời sau những năm tháng biến động. Và mới đây, ở tuổi 97, bà ra mắt Chân cứng đá mềm, đi sâu vào những góc khuất chưa kể trong cuộc đời làm phim, những chuyến đi “lên rừng xuống biển” đầy hiểm nguy để mang về những thước phim quý hiếm.
Các tác phẩm của Xuân Phượng luôn nằm trong danh sách “best seller” (sách bán chạy nhất) bởi lối viết chân thực, giàu cảm xúc và đầy nghị lực. Giới phê bình đánh giá văn của bà không chỉ là kể chuyện đời người, mà là kể chuyện cả một thế kỷ. Năm 2011, bà được Chính phủ Pháp trao tặng Huân chương Công trạng Quốc gia (Ordre national du Mérite) vì những đóng góp trong việc thúc đẩy quan hệ văn hóa giữa hai nước.
Đi qua gần một thế kỷ với tất thảy vinh quang và cay đắng, Xuân Phượng hiện hữu giữa đời thường như một đóa sen ngát hương, vừa kiêu sa đài các của một tiểu thư xứ Huế, vừa gan góc sắt đá của một chiến sĩ vệ quốc đoàn.
Đọc hồi ký của bà, người đọc như cảm thấy yêu thêm vẻ đẹp bất diệt của người phụ nữ Việt Nam - những người đã gánh cả non sông trên đôi vai mình mà vẫn giữ trọn nụ cười rạng rỡ với cuộc đời.