Viết tiếp loạt bài “Núi vàng” công sản đang bị sử dụng lãng phí ra sao?

Bài 2: Quản lý kho bãi để… làm mất kho bãi

Công ty Kho bãi TPHCM được thành lập năm 1981, có nhiệm vụ chính là quản lý, kinh doanh và xây dựng kho bãi. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, lãnh đạo công ty không những đã để thất thoát, mất quyền quản lý nhiều ha kho bãi, mà còn tổ chức biến công sản thành của riêng và để ngoài sổ sách kế toán hàng trăm triệu đồng…

  • Gần 250.000m2 kho bãi… không hẹn ngày về!

Khi thành lập, Công ty Kho bãi TP chỉ tiếp nhận, quản lý và kinh doanh khu kho tồn trữ có diện tích 152.464m2 tại Thủ Đức, vì theo Quyết định 244 ngày 28-10-1981 của UBND TP, Sở Nhà đất và công trình công cộng được trực tiếp quản lý, kinh doanh các kho bãi do TP giao.

Tuy nhiên, do số lượng nhà xưởng công trên địa bàn quá lớn, nên công ty đã tự “truy tìm” địa chỉ kho bãi mà các cơ quan đơn vị đang sử dụng sau khi tiếp quản để yêu cầu ký hợp đồng thuê.

Khu nhà xưởng thuộc sở hữu nhà nước ở địa chỉ 33 Nguyễn Hữu Thoại, P.19, Bình Thạnh nay đã trở thành sở hữu tư nhân.

Với cách làm đó, đến cuối năm 1991, Công ty Kho bãi đã quản lý và ký hợp đồng thuê 257 kho bãi với tổng diện tích 441.460m2 (198.129m2 kho và 243.331m2 bãi).

Đến cuối năm 1997, sau khi UBND TP có Chỉ thị số 12 (ngày 2-4-1993) về kê khai xác lập quyền sở hữu nhà nước đối với các loại nhà đất trên địa bàn và Chỉ thị số 21 (ngày 10-5-1995) về chấn chỉnh công tác quản lý, sử dụng kho bãi thuộc sở hữu nhà nước, công ty còn quản lý 202 kho bãi với tổng diện tích khuôn viên là 377.486m2.

Trong số này có 14 địa điểm kho bãi chưa được xác lập sở hữu nhà nước, 188 địa điểm kho bãi được xác lập sở hữu nhà nước và có quyết định hợp thức hóa của Sở Nhà đất.

Tuy nhiên, cho đến tháng 7-2005, công ty chỉ còn quản lý 115 địa điểm kho bãi với diện tích khuôn viên 217.077m2 (14 địa điểm vẫn chưa xác lập sở hữu nhà nước). Tính ra, tổng cộng từ 1997 đến 2005, có đến 89 địa điểm kho bãi do Công ty Kho bãi TP quản lý với tổng diện tích 160.409m2 đã… không hẹn ngày về! Còn nếu tính cả giai đoạn trước khi UBND TP có chỉ thị về kê khai và chấn chỉnh kho bãi, thì con số này lên đến 144 địa điểm với 224.383m2 kho bãi.

Thậm chí, ngay số kho bãi mà công ty quản lý còn lại đến 2005, cũng chỉ có 97 địa điểm được đo đạc và ký hợp đồng thuê đất. Số còn lại (18 địa điểm), sau một thời gian ký hợp đồng thuê, các đơn vị thuê đã đơn phương ngưng hợp đồng rồi ngang nhiên chiếm dụng để biến thành nhà ở hoặc tài sản riêng với tổng diện tích 22.037m2.

  • Vừa quản lý vừa... “phù phép”

Không chỉ buông lỏng quản lý để hàng loạt kho bãi bị thất thoát, bản thân Công ty Kho bãi cũng tham gia “phù phép” tài sản công thành của tư. Điển hình là mặt bằng rộng 1.138m2 ở số 33 Nguyễn Hữu Thoại, phường 19, quận Bình Thạnh (nay là đường Phan Huy Ôn). Kho bãi này do Công ty Xuất nhập khẩu lâm sản Trung ương 3 tiếp quản sử dụng từ sau ngày giải phóng.

Từ năm 1981 công ty ký hợp đồng thuê với Công ty Kho bãi TP nhưng đến tháng 7-1991 thì trả lại. Sau khi tiếp nhận, Công ty Kho bãi giao cho đơn vị trực thuộc là Xí nghiệp Bảo trì và sửa chữa. Hai tháng sau, ngày 27-9-1991, xí nghiệp đã có công văn gửi giám đốc Sở Nhà đất và Công ty Kho bãi xin được mua và chuyển đổi một phần có diện tích 750m2 để làm nhà ở cho cán bộ công nhân viên.

Chỉ một ngày sau, Công ty Kho bãi đã có quyết định giao cho xí nghiệp tổ chức xây dựng khu nhà ở liên kế trong khuôn viên 33 Nguyễn Hữu Thoại, mà không thông qua sự cho phép của UBND TP. Cùng lúc, Công ty Kho bãi tiến hành ngay việc định giá và lập thủ tục bán hóa giá nhà cho Xí nghiệp Bảo trì và sửa chữa. 10 ngày sau, Công ty Kho bãi được Sở Xây dựng cấp giấy phép xây dựng 6 căn nhà quy mô 1 trệt, 3 lầu.

Qua kiểm tra thực tế, tại phần đất 750m2 xin chuyển công năng, Công ty Kho bãi đã xây dựng 6 căn nhà. Phần còn lại có diện tích 607m2 Công ty Kho bãi “quên” luôn việc quản lý, khiến 15 hộ dân vào chiếm dụng làm nhà ở cho đến khi Công ty Dịch vụ công ích quận Bình Thạnh phát hiện, đứng ra buộc các hộ dân phải trả tiền thuê.

Không những vậy, qua kiểm tra, cơ quan chức năng còn phát hiện hàng loạt sai phạm khác của Công ty Kho bãi. Cụ thể, trong năm 2004, 2005, công ty và Xí nghiệp Xây lắp dân dụng và công nghiệp (đơn vị trực thuộc) đã thu tiền cho thuê 8 kho bãi (5.031m2 kho, 3.934m2 bãi) và để ngoài sổ sách kế toán 221 triệu đồng.

Ngoài ra, công ty còn cho thuê 7.677m2 kho, 4.464m2 bãi của 10 kho bãi thuộc các dự án di dời, giải tỏa theo chủ trương của TP với giá thấp hơn quy định tại Quyết định số 78/2001 ngày 13-9-2001 của UBND TP hơn 788 triệu đồng. Đó là chưa kể đến những khoản công nợ khó đòi tính đến đầu năm 2005 lên đến hơn 2,1 tỷ đồng và một loạt sai phạm trong sử dụng tài chính, mà theo Thanh tra TP, chính là những nguyên nhân “đã làm tăng giá vốn, giảm lợi nhuận một cách không hợp lý, làm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty đối với ngân sách nhà nước”.

Theo Thanh tra TP, trước tình trạng quản lý, sử dụng kho bãi tại Công ty Kho bãi TP phát sinh nhiều vấn đề, tháng 7-2003, Ban chỉ đạo xử lý, sắp xếp lại nhà đất thuộc sở hữu trên địa bàn TP (gọi tắt là Ban chỉ đạo 80) đã yêu cầu Công ty Kho bãi báo cáo tình hình.

Theo báo cáo, đến thời điểm 2003 công ty còn quản lý tổng cộng 158 kho bãi. Tuy nhiên, trong số này có 57 kho bãi đã có quyết định chuyển giao (công năng và sở hữu) của UBND TP, 9 kho bãi đã trở thành… nhà ở, 7 kho bãi thuộc diện giải tỏa và 1 kho bãi bị đơn vị thuê ngưng ký hợp đồng từ năm 1994.

Chính vì vậy, ngày 12-7-2005, Ban chỉ đạo 80 đã báo cáo tình hình lên UBND TP và đề xuất phương án xử lý, sắp xếp lại theo hướng: Với số kho bãi còn lại, cho đơn vị tiếp tục sử dụng tạm thời 6 kho bãi, đồng thời được bán và chuyển nhượng quyền sử dụng đất 24 kho bãi; thu hồi phục vụ nhiệm vụ chính trị, bán đấu giá 45 kho bãi; chuyển công năng xây dựng chung cư 9 kho bãi.

Riêng kho 20 Nguyễn Đăng Giai, phường Thảo Điền, quận 2, rộng 1.938m2, do Công ty Khai thác nước sông Sài Gòn quản lý nhưng bỏ trống kéo dài gây lãng phí, cơ quan chức năng đã đề xuất UBND TP thu hồi để bán đấu giá. Tuy vậy, đến nay ít ai biết “số phận” của các kho bãi này ra sao, trong khi Công ty Kho bãi vẫn tiếp tục để xảy ra hàng loạt sai phạm trong hoạt động quản lý, kinh doanh.

Trước thực trạng này, đầu tháng 1-2007, Thanh tra Chính phủ đã triển khai thanh tra lại toàn bộ hoạt động của Tổng Công ty Địa ốc Sài Gòn, trong đó có việc quản lý, kinh doanh, gây thất thoát kho bãi của Công ty Kho bãi TP.

Công ty Kho bãi TP được thành lập ngày 11-3-1981 theo Quyết định số 50 của UBND TP. Đến ngày 15-12-1992 UBND TP có quyết định thành lập doanh nghiệp nhà nước Công ty Kho bãi, với chức năng nhiệm vụ chủ yếu là hoạt động kinh doanh và xây dựng kho bãi. Tháng 12-1997, Công ty Kho bãi trở thành thành viên của Tổng Công ty Địa ốc Sài Gòn.

PHẠM TRƯỜNG

Thông tin liên quan

Bài 1: Lấy đất công xây... nhà tư

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Tư vấn Pháp luật

Rủi ro pháp lý liên quan đến chuyển nhượng nhãn hiệu

Vì mua bán nhãn hiệu là việc mua bán quyền sở hữu trí tuệ - một loại tài sản còn tương đối mới mẻ trên thị trường, nên để tránh gây ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng, các nhà làm luật đã đưa ra một số điều kiện trong hoạt động mua bán nhãn hiệu. 

Thanh tra khiếu nại, tố cáo

Công bố thanh tra việc Bộ Y tế cấp phép cho VN Pharma nhập thuốc

Sáng 26-9, tại Bộ Y tế, Thanh tra Chính phủ đã công bố về thanh tra việc cấp phép nhập khẩu thuốc và cấp giấy đăng ký lưu hành thuốc đối với 7 loại thuốc do Công ty Helix Pharmaceuticals Inc, Canada sản xuất và việc trúng các gói thầu cung cấp thuốc cho các bệnh viện của Công ty CP VN Pharma.

An ninh - trật tự

Vụ án

Ngày 15-12, xét xử “giang hồ mạng” Phú Lê

Cùng ra hầu Tòa về tội “Cố ý gây thương tích” với Phú Lê trong vụ án này còn có 2 bị cáo: Hoàng Văn Thụy (sinh năm 1995, trú tại xã Kiên Thành, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái), Trần Văn Tư (sinh năm 1988, trú tại xã An Ninh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình).